SỐ 109 - XUÂN BÍNH NGỌ - THÁNG 1 NĂM 2026

 

ĐỌC THƠ TÌNH LÊ MAI LĨNH

Vinh Hồ

I. Sương Biên Thuỳ một hiện tượng lạ của Văn học Miền Nam trước 1975:

Sương Biên Thuỳ (SBT) tức nhà thơ Lê Mai Lĩnh (LML) sinh năm 1942 tại Quảng Điền, Triệu Phong, Quảng Trị là một hiện tượng lạ của Văn học Miền Nam trước 1975, Trời cho năng khiếu văn chương đa dạng, óc lý luận sắc bén, 15 tuổi (1957) khởi nghiệp văn chương, 21 tuổi xuất bản tập thơ đầu "Nỗi buồn nhược tiểu" Nxb Hoa Sen, Nha Trang, 1963, với bút hiệu SƯƠNG BIÊN THÙY. Tập thơ này có bài CÁO TRẠNG (1958) xin trích 7 câu rất hay, báo trước một khí chất quật cường, ngang tàng, bất khuất trong thơ LÊ MAI LĨNH sau này, cậu học sinh 16 tuổi có chí lớn đã tiên đoán chính xác thời cuộc:

Tuổi trẻ hậu chiến
Loài ác điểu cướp mất
Chừ lớn lên mất bản tính con người
...
Vẻ vang phải trở lại
Lịch sử đất nước nầy
Bất khuất dòng Lê Lợi
Việt Nam muôn năm đây

(Cáo trạng,Nỗi buồn nhược tiểu,trang 166, 167,Tuyển Tập LML...)

Mới 17 tuổi, Sương Biên Thuỳ đã đăng "thơ học trò" trên 5 tạp chí tại Sài Gòn, mới 20 tuổi đã nhận Giải Nhất Văn Chương Phật giáo... Sương Biên Thuỳ xuất hiện đúng thời điểm sáng chói của Văn chương Miền Nam (tiếp nối Phong trào Văn chương lãng mạn thời tiền chiến) đầy sáng tạo, đẹp như một vườn hoa lung linh màu sắc, làm say mê mọi tầng lớp trí thức, kể cả sinh viên học sinh lúc bấy giờ, trong đó có tôi đang ngồi trên ghế nhà trường Võ Tánh Nha Trang. Nhà thơ Du Tử Lê đã nhận định:

"Tại miền Nam, sau giai đoạn mở đường, gieo những hạt mầm văn học vạm vỡ của các tạp chí Sáng Tạo, Hiện Đại, Văn Nghệ, Thế Kỷ 20..., là giai đoạn trồng, gặt những mùa gặt văn học sung mãn, bội thu, với các tạp chí Bách Khoa, Văn Học và Văn (tính từ thời điểm đầu thập niên 1960 tới tháng 4 năm 1975)".

Từ năm 1965, tôi bắt đầu cầm bút và làm quen với những tờ báo văn học hàng đầu tại Sài Gòn như: Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Văn Học, Nghệ Thuật... Văn là tờ báo tôi yêu thích nhất, số đầu ra ngày 1.1.1964, số cuối ra trước tháng 4.1975. Tôi đã say mê đọc gần 100 tác giả thời đó. Tôi yêu thơ Đường luật của Quách Tấn, thơ Tự do của Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên..., thơ tình của Đinh Hùng, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Tất Nhiên..., thơ lục bát của Bùi Giáng, Anh Hoa, Phạm Thiên Thư..., văn của Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Hoài Thư..., tùy bút của Võ Phiến..., tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ..., ý thức mới của Phạm Công Thiện, truyện dịch của Trần Phong Giao, Vũ Đình Lưu... Và vô cùng ấn tượng với 3 bút danh lạ lẫm: Nh. Tay Ngàn, Sao Trên Rừng, Sương Biên Thuỳ, như đã từng ấn tượng với bút danh TTKh thời tiền chiến, nhìn thấy 1 lần là nhớ mãi... Đúng 60 năm sau, tôi hân hạnh gặp mặt, bắt tay, chuyện trò với Lê Mai Lĩnh tức Sương Biên Thuỳ một lần:

Ngày Thứ Bảy 5/4/1915, cách nay 10 năm, tôi cùng phái đoàn Văn Bút Đông-Nam HK từ FL đến VA tham dự Đêm Đại hội Văn Bút Đông-Bắc HK; sáng sớm hôm sau, chúng tôi tháp tùng phái đoàn địa phương và phương xa đi thăm Thủ đô Hoa Thịnh Đốn do NT Đăng Nguyên, NT Hồng Thuỷ tổ chức, NT Nhất Hùng đi đầu chụp vô số bức ảnh đẹp... Khoảng 2 giờ chiều, phái đoàn tập họp kiểm danh phát hiện thiếu Lê Mai Lĩnh/Sương Biên Thuỳ, nhiều văn hữu tỏa ra đi tìm nhưng không thấy đâu cả. Phái đoàn vội vã quay về cho kịp buổi tiệc chia tay. Khi về đến địa điểm tổ chức thì thấy LML/SBT ngồi chờ, ai nấy mừng rỡ đến bắt tay anh... Trong chương trình bữa tiệc chiều, có phát biểu, có văn nghệ, LML đã đọc một bài viết dài tựa đề giựt gân: DIỄN VĂN TỪ CHỐI GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG của thi sĩ, nhà văn, nhà báo Lê Mai Lĩnh. Một ông bạn ngồi cạnh hỏi nhỏ vào tai tôi:

- Nhà thơ Lê Mai Lĩnh được trao giải Nobel đúng không?
- Không. Tôi nghĩ Lê Mai Lĩnh có máu hài hước muốn tặng mọi người một chuyện phiếm cho vui vậy mà.

Bẵng đi một thời gian, cuối tháng 6/ 2025, chúng tôi bắt được liên lạc với nhau, anh gởi tặng tôi cuốn sách quý dày cộm có tựa đề "Tuyển tập Lê Mai Lĩnh, thơ, văn, tiểu luận, phê bình văn học, nhận định chính trị" do Cội Nguồn xuất bản 2015. Tôi cảm động viết email cám ơn anh, cho biết sẽ viết một bài cảm nhận sau khi đọc, nhưng bất ngờ ngã bệnh, trải qua một thời gian dài chống chọi, nay hết chết, tôi giở sách ra đọc... bị choáng trước 600 trang, 8 chương... viết đủ lãnh vực, đủ thể loại, đủ đề tài, nào phóng bút, múa bút, thơ, văn, tùy bút, tiểu luận, nào phê bình chính trị... bút lực thâm hậu, chữ nghĩa ồ ạt... Tôi như đứng trước một khu rừng mịt mù sương gió, không biết đi đường nào, viết gì? Qua sách vở, tôi biết ông anh Lê Mai Lĩnh là một người tài hoa có khí phách ngang tàng, lì lợm, gan dạ trước cái xấu, cái ác, cái tham lam bạo ngược, nhưng lại có máu nghệ sĩ, chịu chơi, chơi bạt mạng giang hồ, xả láng sáng về sớm với bằng hữu tao nhân; có trái tim dạt dào tình cảm với phái đẹp, có tấm lòng vị tha từ ái với người cùng khổ, thao thức nặng lòng với quê hương đất nước đau khổ trầm luân. Tự xưng là Khùng thi sĩ, nhưng lại xuất bản trên 16 tác phẩm (theo Tuyển Tập...). Tôi nghe người ta nói Tản Đà ngông, Bùi Giáng điên, Sao Trên Rừng khùng, nhưng có ai tự xưng mình ngông, điên, khùng, như LML không?

Lê Mai Lĩnh quê Triệu Phong, Triệu Phong cũng là bút hiệu của một nhà thơ quê Quảng Trị sống tại Nha Trang là người bạn thơ mà tôi hằng quý mến. Nhà thơ Lê Mai Lĩnh là khoá đàn anh trong quân ngũ, nên VH xin mạn phép được gọi bằng Anh cho thân mật.

II. ĐÔI DÒNG CẢM NHẬN:

- "Lê Mai Lĩnh viết dõng dạc, đọc rất khoái." -Nhà văn nhà phê bình Võ Phiến, 2015.

Tôi thích câu nói ngắn gọn trên của nhà văn tiền bối Võ Phiến. Thơ tình Lê Mai Lĩnh giống như có bùa, đọc rất thích, rất khoái, rất đã. Lê Mai Lĩnh viết như nói, lời nói thành thơ, thơ thường viết dài, phóng khoáng, lưu loát, tự nhiên, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ cảm, hầu hết là thơ tự do. Thơ Tự do của Lê Mai Lĩnh thiên về tình cảm cảm xúc sâu kín trong tim, không khó hiểu như thơ Tự do của Thanh Tâm Tuyền thiên về trí tuệ từng đăng trên Sáng Tạo, Văn trước 1975.

Thơ Lê Mai Lĩnh sử dụng nhiều từ ngữ dân gian gần gũi, và chân thật đến tận cùng bằng số, khi đọc ta thấy hình bóng mình trong đó. Thơ Lê Mai Lĩnh bộc trực, thẳng thắn, không giấu diếm, bộc trực đến độ, ta không dám đọc lại lần thứ hai, và ta có cảm tưởng như nhà thơ đang viết giùm cho ta, lột tả nói ra tất cả những gì thầm kín, sâu xa, bí ẩn nhất trong tim, những góc khuất mờ tối nhất trong tâm hồn, như nhà văn Mỹ Henry Miller đã nói:

"Viết không phải là một sự đào thoát mà viết là một phóng mình sâu hơn nữa xuống ao hồ đen tối nhất."

Thơ Lê Mai Lĩnh tự nhiên như dòng suối chảy, không cầu kỳ đẽo gọt hay triết lý cao siêu, nhưng sẵn sàng vượt lên trên mọi phép tắc, mọi quy luật của thơ, của đời sống, thơ và đời trở thành một. Ở ngoài đời, Lê Mai Lĩnh cứng cỏi ngang tàng, phong sương gió bụi, tự do phóng túng, như một loài ngựa hoang, tung hoành ngang dọc trên đồng cỏ mà không gì có thể ngăn cản. Trong thơ Lê Mai Lĩnh cũng vậy, thơ Tự do là mảnh đất rộng rãi màu mỡ cho thi nhân mặc sức phóng bút, tha hồ phượng múa, rồng bay bày tỏ tư tưởng tình cảm sâu kín đã chiếm hầu hết các trang thơ của mình.

Tuy nhiên, giống như nhà thơ Tô Thuỳ Yên, khi quay về với thơ vần, Lê Mai Lĩnh đã có những bài thơ vần độc đáo như: Bên này bên kia núi Chứa Chan, Đà Lạt trong nỗi nhớ, Chuyến tàu cuối năm; còn Tô Thuỳ Yên thì có những bài thơ vần tuyệt bút như: Cánh Đồng, con ngựa, chuyến tàu, Trường sa hành, Ta về.

Độc giả quen đọc thơ vần, khi bước vào ngưỡng cửa thơ Tự do có thể gặp khó khăn, nhưng đừng bỏ cuộc, hãy kiên nhẫn chịu khó đọc kỷ, đọc chậm rãi từ từ, sẽ đồng cảm, sẽ thấu hiểu những nỗi niềm hân hoan, hay đớn đau của tác giả, sẽ cảm nhận được những vẻ đẹp kỳ diệu của ngôn ngữ thơ, vì thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ.

Đọc thơ Tự do của Lê Mai Lĩnh cũng vậy, giống như người uống rượu mạnh lần đầu khó uống nhưng sau lại ghiền. Xưa kia, tôi từng đọc thơ Tự do của Thanh Tâm Tuyền, nhưng giờ đây bước vào thơ Tự do của Lê Mai Lĩnh, tôi cũng chới với không tránh khỏi những khó khăn như đã nói.

Có thể nói, thơ Tự do Lê Mai Lĩnh khó tiếp cận ban đầu, nhưng khi đã tiếp cận được rồi thì lại thấy khoái chí, khi bắt gặp những câu chữ độc lạ, đắc địa thì lại thấy hân hoan. Thơ Tự do Lê Mai Lĩnh tuôn trào như thác đổ, cảm xúc dâng tràn như sóng vỗ bờ: 10 tháng làm 250 bài thơ tình. Làm thơ dễ dàng như lấy đồ trong túi và nhanh như chớp, còn một vị nữa: thi sĩ Hoa Văn trong 7 năm, xuất bản 7 tập thơ tình.

Lê Mai Lĩnh táo bạo thường dùng những từ ngữ mới lạ, hay nói ra những sự thật trần trụi không che giấu mà ít ai dám nói, tạo ra những nét độc lạ trong thơ tình, đúng như nhà văn Mỹ Henry Miller đã nói ở trên.

Lê Mai Lĩnh có ý hướng làm mới thơ tình, đã tạo cho mình một phong cách riêng biệt rất Lê Mai Lĩnh, không lẫn lộn với ai, một mình một cõi. Đọc thơ tình Lê Mai Lĩnh có nhiều đoạn, nhiều khổ, nhiều câu xuất thần, độc đáo hay đẹp lạ, mà VH tâm đắc, xin phép trích ra đây, kính mời quý độc giả thưởng thức.

Tình yêu trong thơ Lê Mai Lĩnh là loại tình quá lãng mạn, vô cùng nóng bỏng, cuồng nhiệt. Giai nhân, Hoa khôi, Tiên nga trở thành Người tình/Nàng thơ cho Thi nhân phủ phục chết dưới chân, khi yêu không còn thiết gì đến tính mạng:

Dấu yêu,
Em hãy ngó xuống vườn địa đàng
Xem xem, cỏ hoa có tươi vui, mượt mà
Giếng nước có trong trẻo, lịm ngọt
Hương có thơm mùi dạ lý, dạ hương
Để đêm đêm, anh gục đầu, chết khỏe
Dấu yêu,
Phải chăng em là bùa mê anh vướng vào
Phải chăng em là thuốc tiên để anh say mê
Phải chăng em là hố thẳm để anh chôn đời
Bát xá là gì em đi nữa
Em, canh bạc đời anh chơi hết số phận.

(Dấu yêu, 12/7/2014, Tuyển Tập LML..trang 239)

Vườn Địa Đàng trong Thánh Kinh là nơi Adam và Eva suốt ngày quấn quít bên nhau. Vườn Địa Đàng trong thơ Lê Mai Lĩnh là nơi Nàng thơ/Người tình và Thi nhân yêu nhau. Khi yêu, Ái tình là tôn giáo, Thi sĩ là tín đồ ngoan đạo:

Vườn Địa Đàng em, anh không vào,
Sợ vấy bẩn Thánh địa, Thánh tích
Khi yêu, ái tình là tôn giáo
Mà anh, người tín đồ ngoan đạo
...
Buổi sáng, hãy cho anh uống cà phê trên Địa Đàng em
Buổi trưa, hãy cho anh uống nước ngọt của Địa Đàng em
Buổi chiều, hãy cho anh uống rượu mạnh cất từ men Địa Đàng em
Buổi tối, hãy cho anh ngủ giữa Địa Đàng em

(Vườn Địa Đàng, Tuyển Tập LML..trang 229, 230)

Tình yêu thật kỳ lạ mà lý trí không thể hiểu. Khi phải lòng nhau thì yêu điên, yêu dại, vượt cả tình thầy trò, không phân biệt tuổi tác, địa vị:

Thầy nằm, mắt lim dim, như ngủ
Trò ngồi bên hay nằm cạnh, tùy trò
Trên, dưới, ngược, xuôi, tùy trò
Thầy dễ tính, không câu nệ
Trên, dưới, ngược, xuôi, tùy trò
Trước nhất, thầy sẽ bắt trò trả bài
Trong LỤC BÁT, câu SÁU, câu TÁM nằm ở đâu
Trong THƠ ĐƯỜNG, câu nào ĐỐI CHỮ, câu nào ĐỐI NGHĨA
Trong thơ TỰ DO, vai trò ÂM NHẠC, quan trọng ra làm sao

(Những điều cần làm khi trò trở về, Tuyển Tập LML..trang 242)

Tình yêu trong thơ Lê Mai Lĩnh là loại tình yêu đầy hối hả khát khao. Em xinh đẹp tuyệt trần, Em Hằng nga giáng thế, Em Giai nhân sắc nước hương trời, Em Người tình/Nàng thơ thổi lịm hồn thi sĩ, Ta Thi nhân chấp nhận chết dưới chân:

Em, ngọt ngào tiếng hót họa mi
Em, dịu dàng dáng mèo khoan thai
Em, mượt mà tóc buông bờ vai
Em, là Hằng là Trăng hay là Nguyệt.
Em, thiếu nữ hoa khôi, thời con gái
Em, là trăng góa phụ thời mặn mà
Em, là Nàng Thơ thổi lịm hồn thi sĩ
Chết hồn ta, ta chấp nhận, chết hồn ta.

(Hãy giữ giùm tôi nửa trái tim khú đế, Tuyển Tập LML..trang 232)

Tình yêu diễm tuyệt, lãng mạn, cháy bỏng. Tình yêu sẵn sàng đốt cháy Anh, đốt cháy Em. Nhưng cuộc hỏa thiêu Tình yêu lại là nguồn hạnh phúc vô biên diệu kỳ:

Hơn nửa đời người anh mới gặp em
Em mọng đỏ của một thời trái chín
Mà anh, kẻ lãng du suốt đời
Cháy bỏng đôi môi khao khát
...
Đến với sinh nhật em
Anh mang theo trái tim rực lửa
Đốt cháy em, đốt cháy anh
Ôi cuộc hỏa thiêu kỳ diệu quá

(Sinh nhật, Tuyển Tập LML..trang 210)

Tình yêu cao cả, tiếng nói của con tim, mà lý trí không thể hiểu, và cũng không ai hiểu cái hố đen ẩn dụ "ăn hết chỗ còn lại" trong thơ Lê Mai Lĩnh là gì để đến nỗi Chàng phải hóa khùng, hoá điên, rồi chết? May thay khổ thơ kế tiếp lại là chìa khóa mở tung cánh cửa ẩn dụ, bật mí một sự thật: Chàng đã chết trong trái tim Nàng, nhưng nhờ Tình yêu, Chàng đã phục sinh. Ngôn ngữ thơ tình của Lê Mai Lĩnh quá ư ảo diệu, lạ lùng, thâm thuý:

Em có biết,
Một chiều Thu biếc anh tham lam
Cầm lòng không đậu, ăn hết chỗ còn lại
Hóa khùng điên, anh hóa khùng điên, rồi chết
Em có biết
Một tối Đông xám người ta chôn anh
Huyệt, là nơi trái tim em ngự tọa
Và nhờ thế, anh phục sinh, sống lại

(Em có biết, Tuyển Tập LML... trang 208)

III. KẾT LUẬN:

Thơ tình Lê Mai Lĩnh quá lãng mạn, vô cùng cuồng nhiệt, luôn hối hả, khao khát, đắm say:

-"Cháy bỏng đôi môi, khát khao"
-"Tình một cõi, Em trong anh, Anh trong em"
-"Yêu mãi, yêu hoài, yêu không mệt mỏi"

Thơ tình Lê Mai Lĩnh rất lạ, rất đẹp, rất thơ mộng. Người tình/Nàng thơ và Thi nhân đắm chìm trong vô biên hạnh phúc quên cả tuổi tác, không-thời gian. Tình yêu xua tan bao sầu đau trong cuộc đời bể dâu trầm luân. Vườn Địa Đàng trong thơ tình Lê Mai Lĩnh là Thánh địa của Tình yêu miên viễn. Khi yêu, Ái tình là tôn giáo, Thi nhân là tín đồ ngoan đạo, sẵn sàng chết trong trái tim Nàng thơ/Người tình.

Tác giả Lê Mai Lĩnh mở tung cánh cửa, thổi vào một làn gió mát, khu vườn Tình yêu được kết bằng triệu đoá hoa hồng mà hương thơm làm ngây ngất bao con tim, ngôn tình là thơ Tự do có những đoạn, những khổ, những câu hay độc lạ, táo bạo, lãng mạn đứng riêng một góc trời tươi thắm, góp phần làm khởi sắc nền thi ca Việt Nam hải ngoại.

Tác giả Lê Mai Lĩnh đã từng khổ công khai phá mở ra một con đường sáng tạo lung linh sắc màu, mang tên Lê Mai Lĩnh, đang chờ thời gian gạn đục khơi trong.

Trong bài cảm nhận đơn sơ này nếu có điều chi sai sót kính mong tác giả, độc giả bỏ qua xin đa tạ.

Người viết chân thành cảm ơn, cầu chúc tác giả Lê Mai Lĩnh khoẻ mạnh, thành công, tiếp tục sáng tác không ngừng nghỉ.

VINH HỒ
Orlando, Nov 17, 2025

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026