SỐ 109 - XUÂN BÍNH NGỌ - THÁNG 1 NĂM 2026

 

ĐỌC “THUYỀN“ CỦA NGUYỄN ĐỨC TÙNG NHỚ ĐẾN “QUYÊN“ CỦA NGUYỄN VĂN THỌ

(Vài cảm nhận về Thuyền của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng)

Hôm rồi người bạn từ Saigon sang Berlin, tặng tôi cuốn: Thuyền của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng. Hắn bảo, mua định đọc trên đường, và giết thời gian chờ đổi máy bay ở Istanbul, nhưng đọc (nhảy cóc) mấy chục trang đành bỏ, bởi rối mắt, và mệt mỏi lắm.

Cầm cuốn Thuyền trên tay, không hiểu sao, tôi lại nhớ đến: Quyên của Nguyễn Văn Thọ, cũng viết về thân phận những cô gái (rừng nhân) trên đường vượt rừng, tị nạn. Có lẽ, thật ngẫu nhiên hai danh từ thuyền và Quyên ghép lại thành danh từ Thuyền Quyên, với nội hàm chức năng như một tính từ chỉ hai cô gái ở hai miền đất nước, cùng trên hành trình trốn chạy, gây cho tôi cảm giác thú vị. Và ở đó, ta thấy hành động hai cô gái “Thuyền Quyên“ trước sự cướp bóc, hiếp dâm hoàn toàn khác biệt. Nếu Quyên của Nguyễn Văn Thọ tụt quần để trả ơn (Phi) bằng tình dục, và (bị khuất phục) dẫn con đi tìm kẻ đã hiếp dâm phá nát cuộc đời mình, thì Liên Hương của Nguyễn Đức Tùng (có sự phản kháng) gieo mình xuống biển để giữ gìn phẩm giá.

Tuy nhiên, Thuyền – Quyên đều là hai cuốn tiểu thuyết về đề tài thế sự xã hội, song cũng như Nguyễn Văn Thọ, dường như Nguyễn Đức Tùng né tránh những vấn đề gai góc bối cảnh xã hội lúc đó, và nguyên nhân thật sự dẫn đến hàng vạn người phải bỏ nước ra đi, dù biết rằng cái chết đang chực chờ nơi biển khơi sâu thẳm kia. Bởi vậy, khi Nguyễn Văn Thọ viết về Quyên: “Như vậy, sở ngoại kiều, suy cho cùng, người ta đều biết tỏng thực chất xin cư trú của người Việt đều là vấn đề cơm áo gạo tiền, chứ chẳng có nguyên nhân nào khác. Họ cũng biết tỏng, sự mong muốn thoát khỏi cảnh đối nghèo đã đẩy bao người Việt tới đây bằng mọi giá đắt, với nhiều con đường khác nhau” (Quyên- sách đã dẫn) thì Nguyễn Đức Tùng không viết lấp liếm, trắng trợn như Nguyễn Văn Thọ, mà ngòi bút ông ẩn nấp vào những câu hỏi mập mờ khó hiểu:

“Tại sao tôi phải đi?
Tự do không phải là một ý tưởng. Tự do là một kinh nghiệm cá nhân, không chia sẻ. Mọi thứ có linh hồn không? Không.“ (Trang 10)

Cho nên, xuyên suốt Thuyền, ta thấy tư tưởng của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng luẩn quẩn, ngờ vực, dẫn đến sự dằn vặt, giằng xé tâm hồn:

“Vào ngày ấy, năm ấy, trong không gian ấy, tôi chọn lựa. Bi kịch của chọn lựa là tôi không bao giờ biết quyết định đúng hay sai, dẫn về đâu“ (Thuyền trang 81)

Với mâu thuẫn nội tâm như vậy, ta thấy sự bất nhất trong suy nghĩ, lời văn Nguyễn Đức Tùng. Bởi, khi Nguyễn Đức Tùng viết đoạn văn thật cảm động, da diết về quê hương đất nước: “Linh hồn tôi sau muôn kiếp lang bạt kỳ hồ đã tìm thấy căn nhà của mình. Căn nhà ấy là xương thịt, mắt môi, mũi miệng, tay chân là những cánh cửa sổ, cửa ra vào, bàn ghế, cột nhà, gạch ngói, tre trúc. Ở đó, tôi được nuôi nấng và dạy dỗ yêu thương. Chỉ một thứ hoạt động: ký ức“ (Trang 145) thì ngay sau đó ông dẫn người đọc đến câu kết dường như phủ nhận tình yêu nỗi nhớ ấy: “Tình quê hương đã chết. Nhưng tình chị em vẫn còn“ (trang 146)

Vâng, có thật là tình quê hương đã chết trong lòng thi nhân? Hay chỉ có một thể chế đổ vỡ và đã mất mà thôi! Bởi tình quê đã chết, thì còn chi tình người, tình chị em.

Tự do là gì, và ra đi có phải sự lựa chọn duy nhất của nhân vật tôi (nhà thơ Nguyễn Đức Tùng). Câu hỏi đó, tưởng như lời sám hối khi trở về của tác giả vậy.

Có thể nói, Thuyền là một trong những tác phẩm nhọc nhằn, khó nuốt nhất mà tôi đã từng đọc. Bởi, khi viết tác phẩm này, Nguyễn Đức Tùng chịu ảnh hưởng khá sâu sắc thủ pháp nghệ thuật dòng ý thức, độc thoại nội tâm của những nhà văn Âu Mỹ như: William Faulkner (1879-1962) hay James Joyce (1882-1941). Ở đó, diễn biến tâm lý, hay các sự kiện không theo một trật tự nhất định, với những tình tiết đan xen. Ý thức, tâm trí hỗn loạn được tác giả bê nguyên vào trang viết đôi khi làm cho người đọc tưởng chừng tác giả đã lạc đề tài. Sự kéo dài câu chữ, bỏ qua dấu chấm ngắt câu, tuy bộc lộ, thỏa mãn tâm trạng người viết, nhưng dường như cũng làm trang sách rối như canh hẹ vậy. Đặc điểm này, cùng với 367 trang sách không hề có một lời thoại làm cho hành động, lời văn chậm, gây cảm giác nặng nề cho người đọc. Do vậy, không phải ai cũng đủ kiên trì đọc hết cuốn sách. Thủ pháp nghệ thuật này, ta cũng đã gặp nhiều ở các nhà văn trước đây như Trần Dần, Mai Thảo…

Đọc Thuyền, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng cho tôi nhiều cảm xúc khác nhau. Đôi khi tôi phải dừng lại đọc nhiều lần những đoạn văn có hình ảnh rất đẹp: “Tôi nhận ra rằng nước biển chính là những giọt lệ của mẹ tôi, tích tụ qua hàng ngàn năm, của những người phụ nữ mất con trên thế gian này“ (Trang 90).

Ở bài viết này, tôi không đi sâu vào nỗi đau, sự ám ảnh của thuyền nhân. Bởi, trước Thuyền của Nguyễn Đức Tùng đã có rất…rất nhiều các văn nhân, thi sĩ viết về đề tài này rất hay, và cảm động với các thể loại khác nhau, mà tôi đã từng đọc và giới thiệu.

Trên đây là vài cảm nhận ngắn về Thuyền của Nguyễn Đức Tùng. Một nhà thơ tôi chưa từng được gặp gỡ, nhưng rất yêu mến, và khoái đọc thơ của anh. Suy nghĩ chủ quan của tôi rất có thể là không đúng. Vì vậy, khi các bác đọc coi đây như một ý kiến tham khảo mà thôi.

Leipzig ngày 26.11.2025
Đỗ Trường

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026