SỐ 109 - XUÂN BÍNH NGỌ - THÁNG 1 NĂM 2026

 

Đời Thủy Thủ 3

Vũ Thất

http://www.bienkhoi.com/so-107/doi-thuy-thu-3_image002.jpg
Art by James Flood

(tiếp theo)

CHƯƠNG 14
BÀ LỤA LÀ AI?

Ba giờ chiều. Hạm phó báo cáo thủy thủ đoàn đã về tàu đông đủ. Võ Bằng gật đầu, cho lệnh tập họp ở phòng ăn đoàn viên.

Năm phút sau, anh và Cố vấn bước vào. Căn phòng hình hộp chữ nhật, những bóng đèn huỳnh quang trắng sáng hắt xuống bảy dãy bàn ghế bọc formica màu nước biển. Mùi cà phê và thuốc lá còn phảng phất. Hạm phó hô dõng dạc, “Nghiêm!”. Tất cả quân nhân đứng thẳng dậy. Võ Bằng ra hiệu ngồi.

Anh đưa mắt nhìn khắp lượt. Sáu hàng ghế hạ sĩ quan và đoàn viên đối diện hàng ghế sĩ quan. Không khí có phần nghiêm trang, nhưng trong ánh mắt nhiều người vẫn thấp thoáng sự tò mò và hứng khởi.

Võ Bằng cất cao giọng, rõ ràng và ấm áp:

– Chào anh em. Sau ngày nhận quyền chỉ huy, mãi đến hôm nay tôi mới có dịp gặp lại đông đủ. Điều rất vui là buổi sáng đi bờ Rạch Giá, tôi cứ đinh ninh sẽ có vài anh em… quên giờ về, nhưng tôi đã nghĩ sai.

Vài tiếng cười rộ phá tan bầu không khí khép kín. Võ Bằng tiếp lời:

– Cảm nghĩ của tôi sau hai tuần nhận Rạch Gầm là rất hài lòng. Hài lòng vì anh em giữ nghiêm kỷ luật. Hài lòng vì anh em chuyên nghiệp trong công việc. Và hơn hết, hài lòng vì thấy anh em thương yêu nhau như ruột thịt. Tôi xin ngợi khen và cám ơn tất cả. Điều tôi mong là thành tích này phải được duy trì, không chỉ hôm nay mà trong suốt hải trình dài. Các anh em hứa với tôi chứ?

Nhiều tiếng đáp vang:

– Xin hứa. Xin hứa, thưa Hạm trưởng.

Võ Bằng mỉm cười, gật gù:

– Cám ơn anh em. Bây giờ là lúc… xả xú bắp. Anh em có điều gì buồn phiền, thắc mắc, cứ nói thẳng, nói hết cho nhẹ lòng.

Gian phòng bỗng lặng im. Chỉ nghe tiếng vù vù của hơi máy lạnh thoát ra. Võ Bằng khuyến khích:

– Đừng ngại gì cả. Tôi và các sĩ quan sẵn sàng giải quyết thỏa đáng.

Thượng sĩ Quản nội trưởng mở đầu:

– Thưa Hạm trưởng, tôi đại diện tất cả anh em đạo đạt lên Hạm trưởng nguyện vọng sau đây: Hiện tại cuộc sống chúng tôi, nhất là những người có gia đình rất chật vật vì vật giá leo thang. Nên xin được tăng lương.
– Nguyện vọng chính đáng. Ngay khi về Sài Gòn, tôi sẽ trình lên Bộ Tư Lệnh nguyện vọng của các anh, không chỉ một mà là hai: xin tăng lương và xin tăng phụ trội ẩm thực khi đi biển.

Nhiều tiếng ồ vui vẻ vang lên. Võ Bằng lại hỏi:

– Ai còn thắc mắc?

Không thấy ai giơ tay, Trung úy Tiến lên tiếng:

– Thưa Hạm trưởng, thời cựu Hạm trưởng, mỗi chuyến công tác đều có thực hiện công tác dân sự vụ. Công việc giản dị, là đến một lớp tiểu học dạy ca hát, kể chuyện cổ tích. Tôi đề nghị kỳ nghỉ bến tới, Hạm trưởng cho phép Ban Chiến tranh Chính trị đến trường tiểu học An Thới…
– Chấp thuận. Tôi sẽ tham gia cùng các anh. Thắc mắc kế tiếp?

Không ai lên tiếng. Võ Bằng quay sang Cố vấn tóm lược lại sự việc bằng tiếng Anh. Anh chàng lắng nghe, vẻ mặt nghiêm trang, rồi hỏi:

– Tôi có máy chiếu và nhiều phim hoạt họa. Nếu chiến hạm cần cho công tác dân sự vụ, tôi sẵn sàng cung cấp.

Trung úy Tiến nồng nhiệt:

– Rất cần. Cám ơn đại úy.

Võ Bằng hân hoan:

– Chuyến sau nhớ mang theo… Ai còn gì trình bày không?

Cả phòng lặng thinh, Võ Bằng chậm rãi tiếp:

– Trường hợp có gì không tiện nói ở đây, thì anh em gặp riêng tôi…

Anh quét ánh mắt lên mọi người lần nữa, trầm giọng:

– Bây giờ ta bàn công tác sắp tới. Sau buổi họp này, chúng ta sẽ nhổ neo rời Hòn Tre, trực chỉ quần đảo Bà Lụa. Đây là quần đảo có nhiều đảo hơn mọi quần đảo quanh vịnh Thái Lan: An Thới, Hải Tặc, Nam Du, Thổ Châu. Và cũng là quần đảo gần bờ nhất – chỉ cách Kiên Lương 20 cây số. Ngoại trừ Hòn Heo – đảo lớn nhất lập thành xã và vài đảo khác lập ấp. Còn lại đều là đảo hoang. Chính vì vậy, Bà Lụa trở thành nơi tàng trữ vũ khí đạn dược từ miền Bắc đưa vào. Nhiệm vụ chúng ta là chận đứng nguồn tiếp tế.

Cả gian phòng im phăng phắc. Anh lược dịch cho Cố vấn rồi nhìn từng người, nghiêm giọng tiếp:

– Để tiếp tế, địch sử dụng hai phương tiện: một là tàu đánh cá có vận tốc nhanh, có trang bị radar lẫn vũ khí, đi từ miền Bắc. Chúng đổ hàng nhanh chóng ở nơi thuận tiện rồi rút nhanh ra hải phận quốc tế. Hai là các ghe nhỏ tại địa phương chuyển tiếp vào bờ. Ghe nhỏ vì dễ lẩn trốn radar, ít bị nghi ngờ và dễ phi tang.

Anh dừng lại hớp vài ngụm cà phê, như để lời anh thấm vào mọi người:

– Mặc dù chúng ta đã thiết lập bốn hàng rào ngăn chận: sát bờ biển có các chiến thuyền, gần bờ ba hải lý có các duyên tốc đỉnh, xa đến 12 hải lý có các chiến hạm, và xa hơn có Đệ Thất Hạm Đội, vậy mà địch vẫn liều mạng, bất chấp. Cho nên mỗi anh em phải hết sức cảnh giác từng phiên trực. Mọi nghi ngờ thấy được, mọi đối vật trên radar, cho tôi biết ngay để phản ứng kịp thời. Hãy tâm nguyện câu chúng ta từng học: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”.

Võ Bằng ngưng lại, hít sâu, rồi chuyển giọng nhẹ nhàng:

– Về phương diện hải hành, phải hết sức quan tâm đến các vùng nước cạn. Hãy sử dụng fathometer khi tuần tra quanh Bà Lụa, đặc biệt giữa hai đảo, có nơi, khi nước ròng có thể đi bộ được. Ghe địch khi bị phát giác thường chạy trốn qua các ngả này. Hãy nhớ: anh em mắc cạn, hạm trưởng bay chức!

Cả phòng bật cười, không khí dịu xuống. Anh tiếp:

– Nhưng ngoài các hiểm nguy, quần đảo Bà Lụa cũng nổi tiếng về thắng cảnh. Người ta gọi đó là Vịnh Hạ Long của miền Nam. Tôi chưa từng đến Vịnh Hạ Long nhưng đã mê cảnh đẹp Bà Lụa. Mỗi đảo có cảnh trí mang nét đẹp riêng. Có đảo thì rừng xanh phủ tận bờ. Có đảo viền quanh bằng đá trắng như cẩm thạch. Có đảo là hai khối đá dựng đứng mang tên Hòn Phụ Tử… Rồi anh em sẽ thấy nay mai.

Nhiều khuôn mặt đoàn viên bỗng sáng lên, Võ Bằng vui vẻ tiếp:

– Bà Lụa có 40 đảo, mỗi đảo đều có tên gắn với giai thoại. Tôi từng phục vụ trên hải vận hạm, từng đặt chân lên Hòn Heo, nghe nhiều chuyện thú vị. Hôm nay, sau năm năm, nhân dịp trở lại, tôi muốn nghe thêm. Ai biết gì thì kể cho mọi người cùng nghe. Biết chuyện lạ về vùng mình công tác cũng lý thú.

Nhiều cánh tay giơ lên. Võ Bằng chỉ Trung sĩ An. An đứng dậy. Võ Bằng khoát tay:

– Cứ ngồi kể chuyện.

Giọng An trầm và ấm, nghe như giọng ca sĩ Chế Linh:

– Thưa Hạm trưởng, quý vị sĩ quan và các bạn. Tôi xin kể chuyện vì sao gọi là Bà Lụa. Ngày xưa, có một người đàn bà buôn lụa từ Hà Tiên về Rạch Giá. Ghe chở đầy cuộn lụa, vải màu. Gặp bão, bà cho thả bớt hàng mà vẫn không thoát. Ghe ập vào rạn san hô. Bão tan, dân chài thấy từng cuộn lụa trôi giạt, mắc trên vách đá, trải dài trên bãi. Bà và người chèo ghe mất tăm. Từ đó, dân gọi vùng đảo ấy là Bà Lụa. Ngư dân còn truyền rằng, trong những đêm trăng, đôi khi vẫn thấy bóng người đàn bà áo dài trắng đi dọc bãi cát…

Không khí lắng xuống. Hạm phó mỉm cười, lắc đầu:

– Cũng có giai thoại khác. Rằng một bà tên Nguyễn Thị Lụa, vợ một quan người Pháp, hiền lành, không ưa chốn quan trường, bỏ ra quần đảo này nuôi tằm dệt lụa phát cho dân nghèo. Bà mất, dân nhớ ơn, đặt tên cả vùng là Bà Lụa, lập miếu thờ trên Hòn Heo.

Võ Bằng hỏi:

– Do đâu có tên Hòn Heo?

Hạ sĩ Duyệt giơ tay:

– Tôi nghe nói, cũng Bà Lụa này lập thêm trại nuôi heo ở hòn đảo lớn nhất. Sau khi bà mất, dân gọi đảo ấy là Hòn Heo. Cảnh trí đảo rất khác: Rừng sát biển, bãi nhỏ nhưng cát thô, lẫn nhiều sỏi đá, khó đi chân trần.

Hạ sĩ Thương – gốc Rạch Giá, nước da đen bóng, đôi mắt hẹp vì từng chịu sóng gió – góp thêm:

– Tôi cũng nghe, dân đảo chừng trăm người, rất hiếu khách. Ai đến đảo, vị đại diện mời nhậu cho bằng được. Món nhậu chỉ là mực, cá, cua nhưng ngon hết biết! Tôi mong chuyến này được lên đảo. Xin Hạm trưởng cho neo vài giờ…

Võ Bằng cười:

– Vị chúa đảo đó có con gái không?

Cả phòng cười rộ. Hạ sĩ Duyệt lắc đầu:

– Đâu biết!

Võ Bằng gật đầu:

– Vậy bữa nào tiện, tôi cho neo. Chúng ta lên đảo tìm hiểu. Còn sự tích nào khác? 40 đảo kia mà!

Trung úy Tuấn lên tiếng:

– Tôi có dịp đọc trong thư viện Rạch Giá một tài liệu nói về một cụm đảo trong quần đảo này. Đó là câu chuyện buồn. Ngày xưa có gia đình ông Nhum sống trên một hòn đảo. Một hôm, ông bà Nhum cùng hai chàng rể đi đám cưới trong đất liền, chẳng may lúc trở về, biển nổi sóng to, gió lớn, thuyền đắm, tất cả bị chết đuối, thi thể mỗi người trôi giạt vào mỗi đảo. Người ta tìm được và sẵn đó đặt thành tên: Hòn Nhum Ông, Hòn Nhum Bà, Hòn Rể Lớn, Hòn Rể Nhỏ.

Anh ngừng lại như để mọi người thương cảm, rồi tiếp:

– Lại còn một cụm đảo khác là Ba Hòn Đầm. Điểm đặc biệt là ba hòn đảo chụm với nhau thành hình tam giác, tạo một khu vực nước cạn như cái đầm ở giữa. Tuy nhiên mỗi đảo đều có tên riêng như Hòn Đầm Đước – có nhiều cây đước, Hòn Đầm Dương – có nhiều cây dương, và Hòn Đầm Giếng, không rõ sự tích, có thể vì có giếng nước ngọt.

Võ Bằng gật gù:

– Còn Hòn Trẹm, nghe đồn có kho châu báu của bọn hải tặc mà đến nay chưa ai tìm ra. Một ngày đẹp trời nào đó, biết đâu chúng ta chẳng tìm ra kho châu báu đó…

Tiếng cười rộ lên. Trung úy Tuấn nghiêm nét mặt:

– Tôi cũng có nghe lời đồn. Sở dĩ không ai tìm thấy là vì kho châu báu được canh giữ bởi những bóng ma thủy thủ chết chìm. Đêm khuya, ngư dân vẫn thấy các bóng trắng ẩn hiện trên đỉnh đảo. Thành ra không ai dám lên đảo.

Nhiều người rùng mình, le lưỡi. Võ Bằng nhìn đồng hồ:

– Thôi, kể hết 40 đảo chắc đến sáng. Cần nhổ neo ngay để kịp đến Bà Lụa lúc nửa đêm. Đó chính là thời điểm bọn vẹm tặc lộng hành.

Trong khi cùng đi lên đài chỉ huy, Võ Bằng tóm lược nội dung buổi họp cho Cố vấn.

***

Trời đã xế chiều. Biển xanh thẫm như tấm lụa nhung bị vuốt ngược. Võ Bằng đưa ống dòm chậm rãi quét một vòng chân trời. Biển êm, ghe thuyền đánh cá xuất hiện dày đặc. Lẽ ra thì nên bớt máy nhưng anh vẫn cho tiến nhanh. Lệnh của Bộ Tư lệnh Vùng là sau khi bàn giao, Rạch Gầm phải đi ngay đến Bà Lụa nhưng anh đã “ăn gian” cho đi chợ và đi bờ. Trong lòng, anh biết là sẽ phải viết tờ trình nhưng hy vọng mọi sự xuôi chèo mát mái.

Gió chướng chếch ngược nên khá mạnh và lành lạnh. Từ trên nóc đài chỉ huy, tiếng gió tuôn qua các dây cờ nghe như ai huýt gió. Một đàn chim bay thành hàng chéo, chấm chấm đen như những dấu mũ của một bản nhạc. Cố vấn không bỏ lỡ cơ hội, chụp lấy chụp để mấy tấm hình làm kỷ niệm.

Hai chiếc ghe câu vừa tách rời khi thấy chiến hạm chạy đến. Nếu không, sóng dập có thể làm bể mạn ghe. Khi tàu đến gần, Võ Bằng hốt hoảng giảm máy. Trên một ghe, có cả đàn bà con nít. Hai chủ ghe vẫy tay chào. Võ Bằng vẫy đáp, nói to:

– Xin lỗi chúng tôi có chuyện gấp, phải chạy nhanh.

Một ông đối đáp:

– Không sao đâu. Việc binh là trọng. Tội nghiệp, mấy anh cực khổ cho chúng tôi yên ổn làm ăn.

Khi tàu chạy ngang, đứa bé bỗng khóc thét. Người đàn bà vội vạch vú cho con bú. Cố vấn lại chụp lia lịa, nét mặt hớn hở. Ở Mỹ, dễ gì có cơ hội ngắm hình ảnh nghệ thuật thế này. Võ Bằng chợt thoáng bồi hồi. Hình ảnh giản dị ấy làm anh thèm một mái gia đình.

Hình bóng Như Oanh hiện lên, rồi mơ hồ pha lẫn dáng em gái Trung úy Tuấn. Anh cân nhắc: “Như Oanh vẫn là ưu tiên. Nhưng nàng sắp lấy chồng, còn hy vọng gì!” Anh thở dài não nuột: “Giả sử nàng đồng ý làm vợ mình thì lại đụng hàng rào sắt của ba nàng.” Nhớ đến người bạn cùng khóa cưới con gái chúa đảo, anh lại nuôi hy vọng: “Phải đánh nhanh đánh mạnh. Phải thuyết phục Như Oanh mở tiệc rượu để mình nhậu với ba nàng. Rồi nhờ… rượu nói!” Anh mỉm cười hài lòng: “Có lý lắm!”

Máy truyền tin của Cố vấn lên tiếng. Anh chàng bốc nghe và trao đổi. Rồi hỏi Võ Bằng, xin vị trí chiến hạm. Võ Bằng bước sang bật đèn bàn chỉ vòng tròn gạch chéo trên hải trình. Anh chàng lẩm nhẩm đọc trên hải đồ: ‘Ba Lua Islands’, “Hon Doi Moi Island”, “Hon De Island”, “Hon Duoc Island”, “Hon Dua Island”, “Hon Trem Island”. Võ Bằng bỗng tức cười với những cái tên xa lạ, vô hồn. Càng cười hơn, đã là Hòn rồi còn Island gì nữa!

Còi đổi phiên vang lên: 5 giờ 45. Võ Bằng đã thấy đói nhưng đành chờ thêm một tiếng nữa mới đúng bữa. Vả lại, ghe câu còn đông, anh không an tâm rời đài chỉ huy nên bước sang cánh tả nhìn biển mênh mông. Nắng chiều in dáng chiến hạm trên vùng nước xanh sẫm. Cái dáng đó lướt tới, rung rinh theo lượn sóng từ mũi tàu chẻ nước. Anh lại cho tăng máy…

Sĩ quan sắp mãn phiên đang định vị trí chiến hạm chuẩn bị bàn giao với động tác nhanh nhẹn, thành thạo. Các đoàn viên lần lượt thay thế. Trung úy Đặng Thành Tài, người nhận phiên sau, là sĩ quan hải hành. Với trung úy Tài, Võ Bằng thấy an tâm thưởng thức bữa cơm tối ngon lành, nhất là bữa cơm sau khi đi chợ nhiều thịt cá tươi.

Tiếng phát từ miệng loa:

– Đài chỉ huy. Có đối vật hướng 1 giờ, khoảng cách 9 hải lý.

Xa, mà radar bắt được, có nghĩa đối vật khá lớn. Anh cùng Cố vấn xuống phòng chiến báo. Màn hình hiện rõ, vết sáng di chuyển cho thấy hướng vào bờ. Anh ghi tọa độ. Mười phút sau, ghi lần nữa. Lấy khoảng cách chia thời gian, đối vật có tốc độ 19 gút – nhanh hơn tàu anh, khó thể đuổi kịp. Anh lập tức liên lạc với các khinh tốc đỉnh và chiến thuyền để nghinh đón. Cố vấn chưa thấy cần sự trợ giúp của Đệ thất Hạm đội.

Cả hai trở lên đài chỉ huy. Võ Bằng ngồi lên ghế. Cố vấn ôm la bàn đứng cạnh. Sương khói lan trên mặt biển nuốt dần ánh nắng cuối ngày. Một nửa mặt trời còn lơ lửng chân mây. Không gian như đặc lại, tối dần…

Bỗng tiếng loa dội lên lần nữa, dồn dập:

– Đài chỉ huy. Có đối vật hướng 10 giờ. Khoảng cách 2 hải lý.

Tim Võ Bằng thót lại. Hai hải lý – quá gần! Một đối vật nhỏ, nhưng chắc chở đầy vũ khí. Võ Bằng thấy cần phải bắt giữ hoặc tiêu diệt. Anh hối hả:

– Trung úy Tài. Hỏi radar hướng di chuyển của đối vật.

Một khoảng im lặng căng thẳng. Rồi tiếng đáp từ loa:

– Xin chờ…

 

CHƯƠNG 15
ĐÊM HAI LẦN HẢI PHÁO

Hoàng hôn phủ xuống biển, mặt nước nhuộm tím góc trời. Gió nhẹ như hơi thở dài của đại dương. Đài chỉ huy chăm chú theo từng nhịp báo khô khốc từ radar:

– Đối vật di chuyển hướng 070, vận tốc 8 gút, cách một hải lý rưỡi.

Võ Bằng cau mày, tính nhanh trên bàn hải đồ. Theo vị trí và hướng đi, có thể chiếc ghe từ Hòn Nghệ vào Lình Huỳnh. Ghe câu không ai về bến giờ này. Chỉ có thể đây là chuyến chuyển hàng lén lút. Phải chận xét.

Anh khẽ ra lệnh:

– Lái hướng bắc. Cho gọi pháo thủ đại liên và pháo đội 40 ly mũi vào vị trí.

Trung úy Tài bấm máy phóng thanh lặp lại lệnh trên. Ba phút sau, hai khẩu súng báo cáo sẵn sàng khai hỏa. Võ Bằng mặc áo giáp, đội nón sắt và ra dấu mọi người làm theo.

Mặt trời đã chìm hẳn, mặt biển như trải tấm lụa đen ngòm. Anh cho lệnh tắt hết đèn.

Tiếng từ phòng chiến báo dội lên:

– Đối vật cách một hải lý. Hướng 11 giờ.

Võ Bằng xem lại vị trí chiến hạm, vị trí đối vật, tính thời gian gặp nhau rồi ra lệnh:

– Hai máy tiến 2. Lái hướng 010. Giám lộ sẵn sàng rọi đèn pha.

Tiếng báo máy giảm. Một quan sát viên rời vị trí leo lên tháp đèn. Không khí như đông đặc khiến nhịp thở mọi người ngắn đi.

Radar đếm lùi khoảng cách: 1000 yards, 700 yards, 500 yards. Một quan sát viên la lên:

– Báo cáo, thấy đối vật hướng 10 giờ.

Võ Bằng giương ống dòm. Trong mịt mùng không gian, một bóng dài lướt tới. Anh gằn giọng:

– Hai máy ngưng.

Mọi hơi thở như ngưng theo. Đài chỉ huy chìm vào lặng thinh.

Chợt tiếng Hạm trưởng khẽ mà như rền vang:

– Chiếu đèn pha.

Một luồng sáng trắng xé ngang bóng tối. Chiếc ghe câu hiện rõ không xa mạn tả. Hai bóng người đang hối hả ném các kiện hàng xuống biển.

Giọng Võ Bằng vang lên đanh thép:

– Dừng tay lại. Ngưng ném. Tuân lệnh hay bị bắn.

Hai người tiếp tục hì hục. Rồi bất ngờ một tràng đạn nổ giòn. Những vệt lửa vụt sang chiến hạm, lốp bốp vào thành thép đài chỉ huy. Võ Bằng gầm lên:

– Tất cả phản pháo.

Đại liên 50 nổ rền. Đại bác 40 ly chát chúa. Trung sĩ Linh chụp đại liên trên đài chỉ huy nhả nguyên thùng đạn. Mùi khét xộc vào phổi khiến tim ai nấy đập thình thịch. Võ Bằng định thần nhìn theo lửa đạn. Hai bóng người ngã gục. Nước bắn tung tóe. Chiếc ghe vỡ tung. Ván bay tứ tán.

Giọng Võ Bằng dứt khoát:

– Ngưng bắn. Các nơi báo cáo thiệt hại.

Điện thoại viên lặp lời từ các ổ súng:

– Đại bác vô sự. Đại liên vô sự.

Đèn pha quét qua mặt biển. Nước đỏ loang loáng. Các mảnh ván trôi lềnh bềnh. Ba sinh mạng mất hút vào lòng biển sâu. Võ Bằng lẩm bẩm: “Khó hiểu! Chỉ với một tiểu liên, họ dám chống lại cả chiến hạm! Sao lại chọn cái chết?” Một vị chua chát dâng lên cổ họng. Anh nghĩ, một ngày nào đó, dòng máu đỏ thẫm kia có thể là của chính mình.

Võ Bằng nghe Cố vấn gọi máy về Toán Cố vấn Vùng. Anh ghi diễn tiến vào Nhật Ký Hải Hành rồi xuống phòng truyền tin gửi công điện về An Thới: “TTBC*. Chiến hạm chận xét ghe. Địch nổ tiểu liên. Ta phản pháo. Kết quả: địch 3 chết chìm theo ghe. Tiếp tục tuần tiễu.”

***

Võ Bằng về phòng, cơn mệt ập đến như sóng ngầm. Anh chỉ kịp ngả lên giường, ngủ thiếp. Khi tỉnh dậy, đã quá nửa đêm. Anh mừng không ai gọi, tức là mọi sự bình yên. Nhưng lo âu vẫn thôi thúc, anh hối hả lên đài chỉ huy.

Bầu trời sao giăng dày đặc. Vài cụm mây lặng lờ. Nửa mảnh trăng chếch sáng, ánh bạc trải lên biển phẳng lặng. Anh đứng im, thở một hơi dài. Âm vang tiếng súng như còn vọng trong tai. Anh nghĩ đến cha mẹ, vợ con của những kẻ chết chìm. Nỗi đau của họ bao giờ mới nguôi? Vì đâu mà phải vào Nam để chết?

Súng đạn đã chìm theo họ, đúng là phe ta bớt đổ máu. Nhưng trong anh vẫn dấy lên mặc cảm giết người. Và trớ trêu thay, chính “thành tích” ấy sẽ được ghi vào quân bạ, tính điểm thăng cấp. Võ Bằng thở dài. Giờ đây, anh thấm thía thế nào là gánh nặng của một cấp chỉ huy: một mất một còn, giết hay bị giết!

Anh lặng lẽ ngồi lên ghế. Vẫn tiếng sóng rì rào nhưng giờ nghe như tiếng thì thầm nhắc nhở: “Không có lựa chọn nào khác đâu, Hạm trưởng Võ Bằng ơi!”

***

Tiếng loa vang lên xé tan suy tưởng:

– Đài chỉ huy. Có đối vật hướng 10 giờ, khoảng cách 20 hải lý.

Hai mươi hải lý, xa thế mà radar bắt được? Chắc chắn phải là một con tàu lớn.

Võ Bằng hỏi lại cho chắc:

– Radar. Xác nhận đó là đảo hay đối vật di chuyển?
– Thưa, đối vật di chuyển, hướng đông, vận tốc 18 gút.

Một luồng rờn rợn chạy dọc sống lưng anh. Hướng đông chính là tiến đến Hòn Ngang, một đảo hoang. Thương thuyền nào lại đi hướng này? Không, đây chỉ có thể là tàu xâm nhập. Và vận tốc của nó lại nhanh hơn tàu mình!

Võ Bằng nhìn hải đồ. Chiến hạm cách Hòn Ngang về phía Bắc hai hải lý. Tàu xâm nhập cách 20 hải lý về phía Đông. Rút kinh nghiệm lần trước, chận đường nó, nó bỏ chạy, lại đuổi không kịp. Anh quyết định chạy nhanh đến Hòn Ngang rồi tắt máy thả trôi. Biết đâu radar địch lầm tưởng tàu ta là đảo.

Anh nói vào ống loa:

– Phòng chiến báo. Có Hạm phó ở đó?
– Có tôi, thưa Hạm trưởng.
– Tốt. Hãy quan sát kỹ. Thường xuyên cho khoảng cách, hướng và tốc độ đối vât.
– Nhận rõ.
– Liên tục báo độ sâu.
– Nhận rõ.

Khi Hòn Ngang đã hiện lờ mờ, độ sâu 5 fathom, Võ Bằng cho tắt máy tàu. Điều anh lo là dù gió nhẹ nhưng chiều thổi vào Hòn Ngang. Anh hỏi:

– Radar. Cách bờ đảo bao xa?
– Thưa, 110 yards.
– Báo tôi biết khi còn 100 yards.

Võ Bằng quay sang sĩ quan đương phiên:

– Tắt hết đèn. Darken ship! Giám lộ, sẵn sàng đèn hiệu.

Rạch Gầm hòa mình vào bóng tối. Chỉ còn ánh đèn đỏ từ các bảng điều khiển trên đài chỉ huy hắt lên gương mặt các quan sát viên trông như ma biển.

***

Một giờ nặng nề trôi qua. Nửa vầng trăng chênh chếch. Biển tỏa màu bạc lóng lánh lân tinh. Một nhân viên la lên:

– Trình Hạm trưởng. Đã thấy đối vật mờ mờ hướng 9 giờ.

Võ Bằng nâng ống dòm. Rõ ràng là tàu lớn, có thượng tầng và phòng lái nhưng không đèn hải hành. Anh hít một hơi thật sâu, giọng dõng dạc, rành rọt, quyết đoán:

– Cho nhiệm sở tác chiến!

Tiếng còi kêu rền, tiếng chân rầm rập và tiếng nạp đạn, mở khóa an toàn. Điện thoại viên truyền lệnh Hạm trưởng đến các khẩu pháo:

– Nếu bị bắn, phản pháo tức khắc. Khẩu 76 ly ưu tiên triệt hạ đài chỉ huy và khẩu pháo trước mũi.

Tiếng từ phòng chiến báo:

– Đài chỉ huy. Khoảng cách đối vật: một hải lý.

Võ Bằng nói lớn:

–  Giám lộ, đánh đèn hỏi nó là ai!

Ánh đèn mới chớp vài lần, lửa từ tàu địch lóe lên, rồi tiếng pháo gầm, đạn ào ào bay tới. Mọi loại súng đồng loạt phản pháo. Mặt biển rực lửa. Hai quả pháo địch rơi sát mạn trái Rạch Gầm, nước bắn túa lên sàn. Võ Bằng hét:

– Giám lộ. Leo xuống!

Nhiều đốm lửa vụt qua đài chỉ huy. Sĩ quan đương phiên kêu to:

– Ối, tôi trúng đạn…

Võ Bằng bước nhanh tới Thiếu úy Đức, thấy lờ mờ anh ôm bả vai, máu ướt áo, rên rỉ. Anh bảo một quan sát viên dìu Thiếu úy Đức xuống phòng y tế. Thủy thủ Đạt nhanh nhẹn thi hành.

Đúng lúc đó, một quả nổ ngay sau lái, hất tung sóng lên cao như mái vòm trắng. Một cầu lửa nổ bùng ở mũi. Lửa bắn tứ tung. Những tiếng la hét, hốt hoảng nhưng không ai bỏ chạy. Tiếng điện thoại viên run run:

– Trình Hạm trưởng, khẩu 76: 1 bị thương nặng, hai nhẹ. Đại liên 50 tả hạm: một nhẹ.

Đài chỉ huy rung rinh dữ dội. Tiếng súng phản pháo vẫn rền vang. Võ Bằng hét:

– Toán cứu thương đến ngay khẩu 76.

Ánh lửa bùng lên phía tàu địch. Một lỗ thủng toang hoác trên vách đài chỉ huy. Một ánh lửa khác ở mũi mang theo thân người tung cao. Những hình dáng ngã quỵ. Tàu địch đang quay đầu, trình diện nguyên hông phải. Một quả đạn 76 ly bay tới nổ banh mạn giữa, kế tiếp một quả ngay sau lái. Trong ánh sáng bập bùng, thân tàu địch chao nghiêng. Nhiều bóng đen chạy loạn xạ. Lái tàu chúc xuống rồi chìm dần…

Võ Bằng hét:

– Ngưng bắn!

Khói mù mịt phả vào mặt, mùi thuốc súng hăng hắc xộc vào lồng ngực khiến anh choáng váng. Anh nắm chặt thành đài, ra lệnh đổi hướng, tiến đến nơi tàu địch chìm.

Một sự im lặng lạ thường ập xuống, chỉ còn tiếng rên rỉ vẳng lại từ phía xa và tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực. Lại thêm một đối vật chìm sâu. Lại thêm những sinh mạng ra đi vĩnh viễn.

Võ Bằng gọi Phòng truyền tin gửi ngay công điện thượng khẩn về Vùng: “TTBC*. Bị tấn công tại Hòn Ngang. Bị thương 2 nặng (1 sĩ quan, 1 nhân viên), 3 nhẹ. Tàu địch đang chìm. Xin chỉ thị.”

Anh nói vào miệng loa:

– Hạm phó lên ngay đài chỉ huy.

Giọng Hạm phó vang lên:

– Nhận hành, thưa Hạm trưởng.

Cố vấn có mặt trên đài chỉ huy từ nhiệm sở tác chiến, e dè hỏi:

– Xin lỗi, thương binh được đưa về An Thới hay Rạch Giá? Nếu là Rạch Giá tôi sẽ cho xe cứu thương chờ sẵn tại bến đò.
– Tôi đã báo Vùng, đang chờ. Cám ơn nhiều.

Đèn pha quét sáng, Võ Bằng bắt gặp hàng chục phao dầu loang và bốn người còn sống sót bám lấy phao, yếu ớt vẫy tay. Anh ra lệnh:

–  Nhận còi nhiệm sở vớt người!

Nhân viên thả thang dây cho họ leo lên. Chỉ một người ì ạch lên tới sàn tàu. Ba người còn lại, tiếp tục bám phao. Người được cứu thì thào:

– Họ bị thương, không leo được.

Hạm trưởng cho lệnh thả ca nô. Ba người được kéo lên. Cả bốn được đưa đến sân mũi. Một thủy thủ cầm súng canh gác.

Võ Bằng giao đài chỉ huy cho Hạm phó. Anh và Cố vấn đến phòng y tá thăm Thiếu úy Đức và bốn nhân viên bị thương. Tất cả đã được băng bó và săn sóc cẩn thận. Anh nói lời trấn an từng người rồi cả hai tiến về mũi tàu. Chóp mũi bị bắn vỡ nát, bay mất trụ cờ. Vẫn còn may, quả đạn chỉ cần chệch một chút là cả pháo đội 76 ly đi đong.
Anh vô tuyến đến trao công điện thượng khẩn: “Ngợi khen quý chiến hạm đánh chìm tàu địch. Đưa 3 nhân viên bị thương nhẹ về An Thới. HQ 3803 tiếp nhận đưa hai nhân viên nặng về bến đò Rạch Giá. Xe cứu thương Mỹ chờ sẵn. Điểm hẹn: Hòn Sơn Tế 1. Giờ gặp 5:00 AM.”

Anh thảo công điện đưa vô tuyến viên: “TTBC*. Nhận hành. Tin thêm: Mũi hư hại khá nặng. Vớt 4 địch trong đó 3 bị thương. Kính đề nghị giao chính quyền Rạch Giá.”

Võ Bằng và Cố vấn trở lên đài chỉ huy lúc 4 giờ 15, đủ thì giờ xuôi nam đến điểm hẹn, nếu không gặp biến cố mới…

--------------------
Ghi chú:
* TTBC:Trân trọng báo cáo

 

CHƯƠNG 16
TÌNH CỜ

Chiến hạm HQ-266 Rạch Gầm chầm chậm tiến vào cầu An Thới lúc mười một giờ trưa. Ánh nắng đứng bóng trải xuống mặt biển, hắt lên ngàn tia lấp lánh như pha lê. Gió nồng vị muối, mang hơi ấm đất liền và mùi dầu máy quen thuộc. Khi tiếng động cơ ngưng, mặt nước im, chỉ còn tiếng chân người dồn dập trên boong tàu.

Xe cứu thương của Căn cứ Hải quân An Thới đã chờ sẵn. Ba thương binh được cáng xuống, băng gạc trắng đẫm máu sậm đỏ. Mọi động tác đều cẩn trọng, lặng lẽ.

Hạ sĩ Nghĩa – người điều trị đã lâu trong bệnh xá – nay được phép về lại tàu. Khuôn mặt anh xanh xao nhưng nụ cười vẫn tươi, và trong ánh mắt ánh lên niềm tự hào của người lính sống sót trở về.

Khi Nghĩa bước chân lên boong, tiếng vỗ tay vang rền. Người cặp cổ, người nắm tay, người huýt gió. Võ Bằng bước tới, siết chặt tay anh, giọng trầm ấm:

– Tốt lắm, Nghĩa. Mừng em trở về tàu.

Nửa giờ sau, Tư lệnh Vùng cùng Chỉ huy trưởng Căn cứ Yểm trợ đưa toán chuyên viên xuống chiến hạm giám định thiệt hại. Phần mũi cần hàn gắn lại, vết đạn lỗ chỗ bên hông và trên đài chỉ huy phải được vá lấp. Ước tính sửa chữa trong bốn ngày.

Rạch Gầm được dời sang cập cầu Căn Cứ Yểm Trợ, bên cạnh vài chiếc Duyên tốc đỉnh và Chiến thuyền khác. Võ Bằng trở về phòng họp, nơi xấp công văn, công điện đang chờ. Anh dừng lâu ở bản báo cáo từ bệnh viện Rạch Giá:

“Thiếu úy Dương Công Đức đã giải phẫu gắp viên đạn ở bả vai, sức khỏe tốt.
Thủy thủ Lưu Văn Tạo đã giải phẫu lấy mảnh đạn khỏi cổ, tình trạng khả quan.
Cả hai đã được chuyển về Bệnh viện Hải quân Sài Gòn.”

Anh khẽ thở phào, như trút một gánh nặng trên vai.

Khi chiêu đãi viên gõ cửa xin phép dọn cơm trưa, hình ảnh tô bún cá ngày nào ăn cùng Huỳnh Như Oanh chợt ùa về. Anh lắc đầu:

– Tôi sẽ ăn ở ngoài.

Hình như chỉ có vị măn mẳn của nước súp và hương ngọt ngào của cà phê mới làm anh vơi được nỗi nhớ.

Vừa bước vào quán Hải Âu, Võ Bằng nghe tiếng gọi vang lên:

– Hạm trưởng! Mời Hạm trưởng đến chung vui!

Bàn sáu người – đa số nhân viên Ban Chiến tranh Chính trị. Hạm phó Tiến vội đứng dậy kéo thêm ghế:

– Mời Hạm trưởng ngồi đây.

Anh ngần ngừ, chủ định là ăn vội rồi sang quán Sóng hóng gió biển, mặc cho tâm hồn trôi về những kỷ niệm với Như Oanh. Nhưng thấy anh em ríu rít, anh đành ở lại.

Trung úy Tiến trình báo:

– Trước khi tới đây, tụi em ghé trường tiểu học. Cô hiệu trưởng mời chúng ta sáng mai đến, mười giờ.

Võ Bằng gật đầu:

– Vậy là nhất rồi. Mai, chín giờ bốn mươi lăm rời tàu.

Cô hầu bàn đến. Anh gọi bún cá và một lon Budweiser.

Trung sĩ Lâm cười tươi:

– Thưa Hạm trưởng, đêm qua chúng ta đánh chìm hai tàu bắc cộng, hôm nay rất đáng sương sương vài ly rượu mừng!
– Tôi kỵ rượu, bia là đủ.

Lâm nằn nì:

– Thưa Hạm trưởng, rượu nếp than An Thới danh bất hư truyền, ngọt và thơm, rất dễ uống!

Võ Bằng bật cười:

– Dễ uống nhưng cũng dễ say bí tỉ!

Hạm phó chen lời:

– Rượu nếp than uống một bổ hai, thưa Hạm trưởng. Một ly nhẹ thôi mà!
– Được, thử một ly cho biết.

Rượu quả thật ngon. Món ăn đưa cay cũng vừa miệng. Một ly rồi hai, cuối cùng là ba. Dự định ra biển sớm bỗng chậm mất hai tiếng.

***

Mặt trời đã chếch về tây khi Võ Bằng rời quán Hải Âu. Gió biển thổi mát rượi, xua bớt hơi men đang lan khắp thân. Đầu anh hơi choáng, nhưng chân vẫn vững.

Quán Sóng vẫn đó – thưa khách. Anh gọi cà phê phin rồi tự mang ra tán dù với hai chiếc ghế tựa còn chờ.

Ngồi xuống chiếc ghế xưa, tay anh khẽ vuốt lên tay vịn, nơi Như Oanh từng ngồi. Sóng vỗ nhịp vào bờ cát mịn, đưa anh trở lại buổi chia tay xưa. Anh đã nắm tay nàng, và nàng không rút lại. Anh đã hỏi:

– Có thật rồi mình sẽ không còn gặp nhau?

Giọng nàng còn văng vẳng:

– Em không biết. Em cần thời gian xét lại lòng mình. Khi anh mãn công tác, trước khi về Sài Gòn, anh hãy gặp chị em. Nếu chị chuyển lời… tức là em đã chọn.

Ngày ấy, anh đã vui như trẻ thơ. Nhưng giờ nghĩ lại, đó đâu phải lời hứa hẹn. Biết đâu, sau khi đắn đo, nàng nhờ chị chuyển: “Nói với Võ Bằng… đi chỗ khác chơi!”

Anh mím môi, nghe lòng nhói buốt.

Võ Bằng thở dài. Hơi rượu tỏa ra đánh thức cơn nhức đầu. Anh nhấp vài ngụm cà phê. Chất đắng lan dần, đầu óc bớt đau. Anh uống đến nửa ly. Biển vẫn xanh bát ngát, trời vẫn cao thăm thẳm. Trước mặt anh, sóng vẫn xôn xao như những lời thủ thỉ cũ.

Một dáng người thon thả từ dưới nước bước lên. Nàng mặc áo tắm một mảnh màu thiên thanh, mái tóc ngắn bám cổ, đôi kính đen che nửa khuôn mặt mà vẫn toát vẻ diễm kiều. Nàng đi dọc mép nước, dường như không biết có người đang chiêm ngưỡng.

Sức mạnh của men rượu nếp than khiến anh đứng dậy, bước lại gần:

– Chào cô. Xin lỗi vì đường đột. Đây không phải cách làm quen cũ kỹ đâu, chỉ là… quá tò mò: một người đẹp như cô sao lại xuất hiện ở chốn vắng thế này?

Nàng hơi giật mình, rồi cười trong trẻo:

– Chào đại úy. Lâu rồi không gặp, đại úy khỏe chứ?

Anh khựng lại. Cấp bậc hải quân đâu phải ai cũng biết. Hẳn nàng là thân nhân của hải quân, hoặc phu nhân của ai đó. Không khéo lại rắc rối. Anh nghiêng mình:

– Xin lỗi và xin phép chào cô.

Giọng nàng vẫn đùa cợt:

– Đâu có dễ đi như vậy! Đại úy tò mò chận đường tôi, thì cho tôi tò mò hỏi lại: hễ là người đẹp thì không nên xuất hiện ở chốn vắng sao?
– Vì ở chốn vắng này toàn là cơ quan quân sự. Cô thật lạc lõng giữa ba quân.
– Tôi lại thấy, ở chốn này, nhiều người đẹp cũng mặc quân phục hải quân mà.
– Nhưng không ai mặc áo tắm trong giờ làm việc!
– Đại úy tinh ý lắm. Tôi không phải nữ quân nhân, nhưng đã từng lạc lõng giữa chốn ba quân.
– Vậy thân nhân hải quân của cô là ai?

Nàng bật cười:

– Võ Bằng.

Anh giật mình, rồi nhận ra nàng đọc từ bảng tên. Đáo để thật! Anh nghĩ thầm và toan rút lui thì nàng lại hỏi:

– Theo Đại úy, phải là thân nhân hải quân mới được đến đây sao?
– Bị cô gọi ngay là đại úy, nên tôi hơi tò mò.
– Đại úy nghĩ đúng. Có người dạy tôi về cấp bậc hải quân.
– Ai vậy?
– Đại úy thử đoán xem?

Anh lắc đầu:

– Có trời mới đoán nổi!

Nàng trầm giọng:

– Người ấy cho tôi cơ hội hiểu về biển… để rồi đâm yêu biển. Nhờ thế, ngay cả khi nghiệt ngã nhất, biển vẫn mang đến cho tôi sự an nhiên. Tôi vẫn thường nghĩ về người ấy, và vẫn thầm cám ơn.

Tự dưng anh bỗng thấy ưa thích nói chuyện với nàng. Bốn ngày sửa chữa tàu, có người cùng ngắm biển khơi, đỡ nhớ Như Oanh. Anh dò hỏi:

– Cô tắm biển mỗi ngày?
– Không hẳn, chỉ những buổi chiều đẹp trời.
– Nghĩa là muốn gặp cô, tôi phải chờ đến ngày đẹp trời rồi còn phải chờ đến chiều?

Nàng không cười trước câu đùa của anh mà lại cúi mặt, im lặng. Anh sốt ruột:

– Tôi coi sự im lặng của cô là đồng ý. Cho tôi biết tên được chứ?

Nàng ngẩng lên, ánh mắt xa xăm:

– Biết để làm gì… Bởi vì tôi… xin chào Đại úy.
Nói rồi nàng quay đi, dáng mảnh mai tiến dần đến tán dù phía xa. Anh đứng lặng, ngẩn ngơ nhìn theo…

***

Sáng hôm sau, nắng sớm chan hòa. Tiếng chuông nhà thờ An Thới ngân dài trên phố nhỏ. Đúng mười giờ, toán dân sự vụ của Rạch Gầm đến trường tiểu học.

Cô Hiệu trưởng đứng ở cửa, niềm nở đón chào. Sáu mươi học sinh đồng loạt đứng lên khi toán Hải quân bước vào. Những đôi mắt tròn xoe, háo hức.

Võ Bằng mỉm cười:

– Các cháu ngồi đi.

Anh nhìn khắp lớp và khựng lại. Cô giáo đứng bên cửa sổ chính là người đẹp anh gặp hôm qua ở bãi biển. Vẫn đôi kính to che nửa khuôn mặt, vẫn mái tóc ngắn chấm cổ. Nàng thản nhiên như không thấy anh.

Cô Hiệu trưởng giới thiệu:

– Các em thương yêu, đây là các chú Hải quân đến từ Sài Gòn, thủ đô nước Việt của chúng ta.

Cô quay sang Võ Bằng:

– Đây là chú Hạm trưởng chiếc tàu đang cập ngoài cầu. Hôm nào, xin chú cho các em xuống thăm tàu. Các em có thích không?

Tiếng trẻ vang lên:

– Dạ có ạ.

Võ Bằng ân cần:

– Hiện tàu chú đang sửa chữa, chừng nào thuận tiện chú sẽ cho hay.
– Các em nói gì nào?
– Chúng cháu cảm ơn Hạm trưởng!

Anh hân hoan đứng lên:

– Hôm nay các chú sẽ dạy các cháu hát một bài rất vui, tên là Hát hay không bằng hay hát. Các cháu thích hát không?
– Dạ thích ạ!
– Chú Tiến, bắt đầu đi.

Hạm phó Tiến ra hiệu cho Hạ sĩ Lâm dạo đàn. Giai điệu rộn ràng vang lên. Các thủy thủ phân tán, ngồi xen giữa học trò. Tiến hát to:

“Hát hay không bằng hay hát!
Hát hay không bằng hay hát!
Hát luôn luôn, hát luôn luôn!
Hát những lời xây dựng nông thôn!”

Tiếng hát trẻ thơ hòa với tiếng đàn, ban đầu rụt rè rồi vang lớn. Các thủy thủ vừa hát vừa múa tay, khiến bầu không khí rộn ràng hẳn. Tiếng cười, tiếng vỗ tay rộn khắp sân trường.

Trung úy Tiến hứng chí hát đoạn kế:

“Hát hay không bằng hay hát!
Hát hay không bằng hay hát!
Hát liên hoan, hát vang vang!
Hát đông đông, hát cộng đồng!”

Âm nhạc lại bừng lên. Những khuôn mặt bừng sáng, những đôi môi đỏ hồng hát hăng say.

Khi kết thúc, cô Hiệu trưởng xúc động nói:

– Trường tôi thỉnh thoảng dạy hát, nhưng chưa bao giờ vui thế này. Cảm ơn các anh đã mang đến một buổi sáng rộn ràng và ý nghĩa.

Khi toán dân sự vụ vẫy tay chào. Đám học trò ùa đến, hỏi đủ điều:

– Các chú ơi, chừng nào trở lại?
– Cháu lớn lên, cho cháu đi tàu với chú nghen?
– Ngoài biển có bị say sóng không chú?

Võ Bằng cúi xuống xoa đầu từng đứa, thấy lòng ấm lạ. Tiếng hát trẻ thơ như còn ngân trong tim anh.

Anh quay lại chào từ giã cô Hiệu trưởng và các cô giáo. Khi anh đến cửa, cô giáo đeo kính bước tới, giọng nhẹ như gió:

– Đại úy… thật sự không nhận ra em sao?

Nàng gỡ kính xuống. Ánh mắt ấy. Nụ cười ấy. Dù đã hơn hai năm, dù mái tóc ngắn đi và làn da rám nắng, anh vẫn nhận ra.

Anh khẽ thốt:

– Phan Kim Phượng?

Nàng mỉm cười, giọng buồn lắng:

– Phan Kim Phượng chết rồi. Giờ em là cô giáo Lê Hồng Hạnh.

Anh đứng lặng, nghe tim mình đập lạc nhịp.

– Phan Kim Phượng… Lê Hồng Hạnh…

Kỷ niệm một chuyến hải hành đẹp mà cay đắng chợt ùa về. Anh thấy mình đang ngồi trong phiên xử của Hội đồng Kỷ luật, nghe Chủ tịch Hội đồng tuyên hình phạt…

Anh cũng nghe tiếng nàng ngậm ngùi:

– Chuyện dài… Ngày mai, ở bãi biển, em sẽ kể.

 

CHƯƠNG 17
TÌNH CỜ
(tiếp theo)

“Có nên gặp lại nàng không?”

Câu hỏi ấy cứ váng vất trong đầu Võ Bằng suốt buổi tối. Một bên là nỗi tò mò, thương cảm; một bên là ám ảnh về tương lai hải nghiệp. Anh muốn biết nàng đã phải trải qua những gì sau khi bị an ninh bắt giữ: vì sao lại được khoan hồng, và có thể đổi nhân dạng, trở thành cô giáo. Nàng có bị tra hỏi, có khai hết, hay chỉ nói những điều cần nói?

Mà gặp lại để làm gì? Không chừng lại thêm một sai lầm. Và lần này như một tái phạm, tương lai thực sự mịt mù. Không gặp nữa là tốt nhất.

Khi ý nghĩ ấy hình thành rõ ràng, anh bỗng thấy lòng nhẹ đi, nhắm mắt và thiếp ngủ.

Cốc, cốc, cốc!

Tiếng gõ cửa vang lên, khẽ rồi mạnh dần. Võ Bằng choàng tỉnh:

– Tôi nghe.
– Trình Hạm trưởng, có Trung tá Chỉ huy trưởng Căn Cứ Yểm Trợ xuống tàu, đang ở trên boong.
– Tôi lên ngay!

Anh ngồi bật dậy, vội rửa mặt, thay quân phục.

Trên boong, Trung tá đứng ở mũi, hai chuyên viên kỹ thuật đang đo đạc phần hư hại. Võ Bằng đưa tay lên chào.

– Cho anh hay là Căn Cứ Yểm Trợ chỉ có thể sửa tạm. Khi tàu về Sài Gòn, Hải Quân Công Xưởng sẽ phục hồi nguyên trạng.
– Xin cám ơn Trung tá. Mời Trung tá dùng cà phê.

Trung tá mỉm cười:

– Cám ơn anh, tôi đang bận. Tôi chỉ muốn gặp anh để chắc rằng tàu không có yêu cầu sửa chữa nào khác. Máy chánh, máy điện vẫn chạy ngon lành?
– Dạ, rất tốt.
– Truyền tin, Radar?
– Dạ, vẫn tốt.

Trung tá nhìn dãy chiến đỉnh đậu cùng cầu:

– Những chiếc kia mới đi vài tuần đã quay về xin sửa. Còn tàu anh, hai tháng liên tục vẫn hoạt động — đúng là phép lạ!

Võ Bằng nói xuôi:

– Thật sự là phép lạ, thưa Trung tá.

Trung tá đưa tay:

– Thôi. Chúc Hạm trưởng luôn gặp mọi sự tốt đẹp.

Võ Bằng nắm lấy:

– Kính chào. Rất cám ơn Trung tá quan tâm.

Võ Bằng tươi cười tiễn Trung tá rời tàu. Anh quay sang Hạm phó vừa đi tới:

– Anh xúc tiến thảo văn thư xin Chiến Thương Bội Tinh cho sĩ quan và các nhân viên bị thương. Trình tôi chậm nhất là sáng ngày mốt. Ngoài ra, chuẩn bị quà để sáng mai toán chiến tranh chính trị cùng tôi đi ủy lạo họ.
– Rõ, thưa Hạm trưởng.
– Tàu ở bến bốn ngày, anh dự trù công việc ra sao?

Trung úy Tiến đáp rành mạch:

– Tôi cho lấy đầy dầu, nước, bổ sung đạn đủ cấp số. Về nhân viên, tôi đề nghị cho một chi đội trực, hai chi đội đi bờ, luân phiên 3 ngày. Ngày thứ tư, tổng vệ sinh chiến hạm.

Võ Bằng gật đầu:

– Chấp thuận. Nhắc nhở anh em đi bờ không được say sưa, phá phách. Bị quân cảnh nhốt là tôi không lãnh ra và tự tìm phương tiện về Sài Gòn.
– Rõ!

Võ Bằng vui vẻ:

– Còn anh, có định đi bờ không?
– Xong mọi việc sẽ tính sau, thưa Hạm trưởng.
– Ở đây trên hai tháng mà chưa quen cô nào sao?
– Ở đây, trai thừa, gái thiếu, đành chịu thua, thưa Hạm trưởng.
– Có ba cô giáo hôm qua đó, quen rồi mà.
– Giờ dạy học mà mò đến trông kỳ quá. Hai nữa, không chừng hai cô đã có chồng, còn một cô…

Hạm phó chúm chím môi, tiếp lời:

– Một cô hôm qua buông lời trách móc Hạm trưởng…

Võ Bằng bật cười mà tim nhói đau. Cô giáo Lê Hồng Hạnh, nữ đặc công Phạm Kim Phượng, cái tên ấy vang lên như một tiếng chuông cảnh tỉnh. Nhưng miệng anh vẫn buột ra một câu bất ngờ:

– Có thể hôm nay tôi gặp…

Hạm phó chào, rồi bước về phía mũi. Võ Bằng nhìn theo, lòng đầy cảm mến. Anh đã may mắn có một phụ tá năng nổ, rành việc, cầu tiến. Nhớ lại thời gian hai năm làm Hạm phó lần lượt trên hai tàu Tuần duyên hạm và Hộ tống hạm, anh cũng đã phải đổ bao nhiêu là mồ hôi, cả nóng lẫn lạnh. Hạm trưởng chỉ mó tay vào các đại sự cần đến nhiều kinh nghiệm hải nghiệp, còn mọi nhật vụ lớn nhỏ đều do Hạm phó bao thầu. Phần việc nguy hiểm nhất cho chức vụ Hạm phó là hướng dẫn toán võ trang qua tàu nghi ngờ khám xét, lục soát.

Anh chầm chậm bước vòng quanh chiến hạm. Lại thêm nỗi mừng; quản nội trưởng cũng rất xông xáo, biết điều khiển nhân viên. Đâu đâu cũng tươm tất, trật tự. Anh bỗng nghĩ về anh. Một vùng ngổn ngang chưa dọn được: những xáo động tâm tình vừa trỗi dậy.

Bữa cơm trưa cùng sĩ quan trực thật vui. Câu chuyện xoay quanh mối tình giữa hai nhân vật Vô Kỵ – Triệu Minh. Cả hai thử đưa ra kết cuộc. Cuộc bàn thảo gợi mối tình rối rắm hiên tại của anh. Phan Kim Phượng xem ra vẫn còn yêu anh. Hai năm trước, chính tình yêu đó góp phần ngăn nàng cho nổ quả bom, nhờ đó anh và nhiều người còn sống đến hôm nay. Vậy mà anh lại định lẩn tránh. Có bạc bẽo lắm không?

Hai năm qua, thỉnh thoảng anh vẫn nhớ nàng. Vẫn tự hỏi: nàng giờ ở đâu, ra sao. Nhưng giữa một bên là sự thỏa lòng hiếu kỳ và bên kia là tương lai hải nghiệp, anh đã chọn tương lai. Nay tình cờ gặp lại. Có gì mà phải trốn tránh?

Anh thấy rõ, trốn tránh không phải là cách xóa bỏ quá khứ. Gặp lại đâu phải là để bắt đầu lại, hoặc để hàn gắn. Mà để chôn vùi.

Anh thở dài, nhìn đồng hồ. Bốn giờ chiều. Trời trong, gió nhẹ. Thì coi như một cuộc đi dạo chơi – thế thôi. Nếu An Ninh có truy hỏi, thì tình thật giãi bày: chỉ là chuyện tình cờ…

Võ Bằng mặc thường phục, thong thả hướng ra biển.

Bãi An Thới vẫn thế: sóng vẫn vỗ nhịp nhàng, những tán dù đổ bóng trên cát. Anh ghé quán Sóng, mắt lướt nhanh chung quanh, tìm bóng dáng đáng ngờ. Bãi vắng vẻ. Anh mua lon bia, tiến về chỗ dù cũ.

Nàng đang nằm trên ghế tựa, ghế của Oanh ngày trước. Anh đặt lon bia cạnh ly nước dừa trên bàn gỗ, thong thả ngồi xuống. Nàng nhỏm dậy, giọng hân hoan:

– Chào anh Bằng. Hôm nay anh mặc thường phục, trông lạ hẳn.
– Đẹp hơn hay xấu hơn?
– Dễ thương hơn.
– Khó thương mới tốt.

Nàng cười, nụ cười gượng:

– Cho dù khó thương, em vẫn sợ anh không đến.
– Sao lại sợ?
– Anh biết rồi mà còn hỏi.
– Thật tình anh không hiểu.
– Em đã gây tai họa cho anh, tưởng chẳng bao giờ anh tha thứ.

Võ Bằng im vài giây, rồi nhẹ nhàng:

– Em đáng được tha thứ. Nếu em cho bom nổ, anh đâu còn ngồi đây.
– Em rất vui nghe anh nói vậy.

Anh mỉm cười, ánh mắt xa xôi:

– Giờ em kể cho anh nghe đi. Từ Phan Kim Phượng thành cô giáo Lê Hồng Hạnh – chuyện ấy diễn ra thế nào?

Giọng nàng đều đều, không vòng vo.

Sở An Ninh Hải quân tra hỏi, nàng khai hết. Rồi Cục An Ninh Quân đội thẩm vấn, nàng khai cả tổ trưởng, địa điểm liên lạc, mật khẩu, kho chế tạo chất nổ. Ngay đêm đó, Cục cho đột kích, toàn tổ bị bắt gọn. Nàng được hưởng chương trình bảo vệ người hồi chánh – có nhân dạng mới, căn cước mới, nghề nghiệp mới, địa chỉ mới.

– Còn ba má em?
– Một tháng sau, không thấy em đến ở trọ nhập học, người chủ nhà vội cho ba má em hay. Hai ông bà lên Sài Gòn đến cảnh sát khai em mất tích. Ba tháng sau, An Ninh bí mật đưa ba má em ra đây, để thấy em còn sống và đang được bảo vệ. Em chỉ được bên ba má ba ngày rồi biệt tin đến bây giờ.

Giọng nàng nghẹn lại:

– Cả tuần lễ em khóc suốt đêm. Không chỉ vì thương ba má, mà vì sự dại dột khiến cả nhà đau khổ, chia lìa.
– Em chọn ra đây ẩn thân?
– Không. An Ninh chỉ định. Nói rằng em phải ở đây ba năm cho an toàn.

Anh khui lon bia, uống vài ngụm:

– Còn một năm nữa. Em định sau đó sẽ đi đâu?
– Có thể ở lại đây luôn. Em thích nơi này. Mỗi khi nhìn biển, em nhớ hai ngày hải hành thật đẹp… dù biết đó chỉ còn là ảo ảnh.
– Quên đi là hơn.
– Không thể. Em luôn lo cho anh, sợ anh bị liên lụy.

Võ Bằng chỉ cười nhẹ:

– Anh không sao. Em thấy rồi đó, quên anh đi.
– Hôm đầu gặp lại, thấy anh vẫn trong quân phục, em mừng lắm.
– Anh cũng thầm cám ơn em đã không cho bom nổ.
– Em thật ngu dại, đi chọn cách giết người để tạo dựng tương lai hạnh phúc. Anh đã cứu đời em. Em thề sẽ mãi sống thanh bạch, chân thật.

Nàng nâng ly nước dừa, uống cạn nửa:

– Anh vẫn là Đại úy, vẫn Hạm phó Đống Đa 007?
– Không, đã chuyển qua tàu khác.
– Lớn hơn?
– Nhỏ hơn.
– Thế là bị phạt rồi!
– Không, ở đâu cũng làm bổn phận.
– Em có thể xuống thăm tàu không? Hay em đã làm anh quá sợ?

Anh chộp ngay lý do chính đáng, từ chối:

– Không sợ nhưng không được. Tàu đang sửa ở công xưởng.

Nàng nhìn bàn tay anh, không nhẫn, khẽ hỏi:

– Anh vẫn chưa có vợ?

Anh cười buồn:

– Hai năm qua nào dám đụng tới ai!
– Nghĩa là anh chưa… chê em?
– Ở vùng đất đa phần là đàn ông này, chắc chắn không ai chê em. Nhưng cưới em, nếu là quân nhân hay công chức, đều là chuyện bất khả. Em hiểu vì sao không?
– Không.
– Vì em là người An Ninh đặc biệt theo dõi.
– Nhưng em đã hối lỗi.
– Họ tin em nhưng tì vết còn đó. Quân nhân công chức không được phép đụng vào người mang tì vết.

Nàng nhìn sững anh. Anh thở dài, tiếp:

– Đó là về phần anh. Còn về phần em, nghiêm trọng hơn. Em thừa biết phía bên kia không từ một thủ đoạn tàn độc nào. Nếu biết em hồi chánh, họ sẽ buộc em trở lại hoạt động – hoặc giết em và cả ba má em.

Nàng kêu khẽ thảm thiết:

– Trời ơi…
– Đó là lý do em phải đến ở đây. Và cũng là lý do ba má chỉ được gặp em một lần.
– Vậy là chẳng bao giờ…
– Sau ba năm, nếu em khéo léo, vẫn có thể đoàn tụ với ba má.

Nàng cúi mặt, hai vai run nhẹ. Nước mắt rơi xuống cát, thấm mất như chưa từng tồn tại.

– Em đâu ngờ ra nông nỗi này!
– Em buồn rầu càng thêm đẹp. Ai mà chẳng mê. Biết đâu mai này một bác sĩ, kỹ sư ra đây nghỉ hè, hoặc một doanh nhân ghé đến giao thương, gặp được em rồi rước em về Sài Gòn, và đưa ba má em về ở chung.
– Thật lòng, hiện tại em thấy vui với bọn trẻ thơ. Mỗi tiếng đánh vần, mỗi ánh mắt ngây thơ giúp em sống lại. Cô hiệu trưởng, đồng nghiệp đều thương. Cả sóng biển cũng thích vui đùa với em. Nhưng biết sao được số trời?

Giọng nàng chùng xuống:

– Em vẫn nhớ lời hứa khi chia tay ở hạm kiều Đống Đa 007. Em đã nói nếu sau này tình cờ gặp lại, sẽ cùng anh dạo núi Tao Phùng. Bây giờ gặp rồi, mà Vũng Tàu xa ngàn trùng. Không chỉ xa về khoảng cách… mà cả con người. Cô giáo Lê Hồng Hạnh với anh giờ chỉ là một người… hơn cả xa lạ.

Anh im lặng.

Ngoài kia, sóng vẫn vỗ đều. Anh nhớ Như Oanh – bàn tay mềm mại trong tay anh buổi chiều ngày nào. Anh biết mình đã yêu Như Oanh nhưng nàng còn xa hơn cả ngàn trùng. Một người đang ở gần, rất gần nhưng không thể rớ tới. Anh nhìn nàng.  Hai giọt nước mắt tiếp tục lăn dài trên má.

Anh đưa ly nước dừa cho nàng, nâng lon bia của mình:

– Coi như rượu ly bôi. Hãy uống cạn. Mọi sự xuôi gió, sóng yên.

Họ cùng uống. Cùng nhìn nhau…

Võ Bằng dứt khoát đứng lên, bước đi chậm rãi. Cô giáo Lê Hồng Hạnh ngồi yên nhìn theo. Và nước mắt lại tuôn tràn…

 

CHƯƠNG 18
TIẾN VỀ QUẦN ĐẢO THỔ CHÂU

Trưa An Thới biển màu xanh ngọc.

Võ Bằng đứng trên boong tàu, dõi mắt theo những hòn đảo lớn nhỏ thành một hàng dài. Hòn Thơm nổi bật, cao nhất, lớn nhất. Anh có nghe bãi tắm Hòn Thơm cũng đẹp nhất, nước trong nhất. Đã có lúc anh định thả ca-nô ra đó tắm nhưng lúc nào cũng thiếu… người đẹp đi cùng!

Từ sau hôm chia tay cô giáo Lê Hồng Hạnh, Võ Bằng chỉ quanh quẩn trên tàu. Không hẳn vì sợ chạm mặt, mà muốn lợi dụng bốn ngày sửa chữa để tìm hiểu thêm về loại trợ chiến hạm. Trên giá sách trong phòng họp sĩ quan không thiếu quyển Cẩm Nang nào. Từ cẩm nang cho máy chánh, máy điện đến truyền tin, điện tử, tác chiến, đào thoát…

Những trang cẩm nang cho thấy hình ảnh về một loại chiến hạm được trang bị hỏa lực mạnh để yểm trợ các cuộc hành quân ven sông, ven biển. Đôi khi trở thành soái hạm cho bộ chỉ huy. Nhiệm vụ thứ yếu là tuần tiễu. Võ Bằng đã trải qua vài trận địch phục kích nhưng đọc lại những dòng cảnh báo cũng không khỏi chạnh lòng. Với chiều dài đáng kể, thường trực trình diện địch toàn bộ mạn tàu, vận tốc thấp và nhất là đơn độc trên sông, trợ chiến hạm luôn là mục tiêu ngon lành cho địch nhả đạn. Sự ra đời của súng B40, B41 càng gây thêm nhiều thiệt hại.

Từ sau Tết Mậu Thân 1968, nhằm tăng cường hữu hiệu công tác ngăn chặn và diệt địch, Hải Quân được trang bị thêm nhiều chiến đỉnh, giang đỉnh có tốc độ cao, hỏa lực mạnh, phản ứng nhanh. Trợ chiến hạm được điều động tuần dương, đáp ứng việc địch tăng cường xâm nhập đường biển.

Bốn ngày trôi qua, công tác hàn vá hoàn tất, tàu dời về cập cầu nổi. Anh định dùng ngày nghỉ bến cuối cùng khởi sự đọc Tư Tưởng Hiện Đại của Bùi Giáng mua khá lâu nhưng chưa hề rớ tới. Thế nhưng chữ nghĩa cứ bị bóng dáng Huỳnh Như Oanh xóa mờ. Anh không hiểu nổi con người của mình. Suốt hai năm dửng dưng với mọi người đẹp, rồi bỗng nhiên lại đam mê người chỉ gặp trong thoáng chốc. Phải chăng đó là vì hạp nhãn như thường nói?

Anh nhìn về phía đồi cao, nơi lần đầu gặp nàng. Trời xanh vời vợi, gió nhẹ mang theo hương biển khiến anh khao khát muốn ra quán Sóng nằm mơ màng có nàng bên cạnh. Rồi tưởng tượng ra cuộc đối thoại thú vị để nhớ giọng nói êm ái, ngọt ngào, tế nhị…

Võ Bằng trở xuống phòng họp sĩ quan, đọc hết công văn công điện để chắc chắn không còn việc gì cần giải quyết. Có hai công việc quan trọng trong một công điện từ Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải:

“1. Do thành tích đánh chìm hai tàu chở súng đạn, quý chiến hạm được ân thưởng bốn Anh Dũng Bội Tinh gồm hai ngôi sao bạc, hai ngôi sao đồng. Gửi danh sách về nơi gửi trong thời hạn sớm nhất.
2. Hạm trưởng được mời tham dự thuyết trình hành quân sáng mai lúc 8 giờ. Khởi hành công tác ngay sau buổi thuyết trình.”

Một ngôi sao bạc xứng đáng dành cho Thiếu úy Đức, trưởng khẩu 76,2 ly bị thương nặng. Ba ngôi sao còn lại ủy quyền cho Hạm phó tập họp nhân viên bình chọn. Anh trút bỏ quân phục, thay đồ dân sự rồi cuốc bộ lên phố. Dừng lại quán Ngự Bình, xơi tô bún bò Huế rồi lững thững đến quán Sóng. Anh mua lon bia, cầm ra tán dù vẫn bỏ trống. Đồng hồ ở cổ tay vừa chỉ hơn một giờ trưa. Giờ này chắc cô giáo Lê Hồng Hạnh còn bận dạy. Cho dù nàng đã ra đây tắm, có đến chào, anh cũng sẽ làm lơ.

Anh khui lon bia, mắt dõi ra khơi, nhâm nhi từng ngụm nhỏ. Anh ngả người, nhắm mắt mơ tưởng đến Như Oanh. Nàng thật dễ thương, đứng bên mép biển trong chiếc quần jeans xanh và áo sơ mi xám nhạt. Tóc đen, dài, xõa ngang lưng. Khuôn mặt gần hình bầu dục, đôi mắt to, sáng, làn da ngọc ngà. Và nàng đang cười – nụ cười duyên dáng, giọng cười giòn giã…

Giấc mơ kéo anh và nàng vào cõi sống đầy hạnh phúc, không tiếng súng, không thị phi. Chỉ anh và nàng và biển trời…

Khi tỉnh giấc, nắng đã nghiêng. Vài người tắm biển. Dăm ba dạo trên cát. Võ Bằng uống cạn lon bia rồi bước dọc bờ. Ánh nắng phủ lên mặt nước màu xanh dịu. Anh dừng lại nơi từng đứng với Như Oanh. Sóng nhấp nhô như lời thì thầm: “Anh Bằng, về Sài Gòn gặp em ngay. Em nhớ anh.”

Anh khẽ bật cười: “Võ Bằng ơi! Đừng mộng mơ nữa. Hãy tiếp tục xa lánh các giai nhân. Hãy hiến trọn tâm hồn cho đại dương. Chỉ có biển mới giữ đời thủy thủ thăng bằng. Dù sóng gió, bão tố, rồi cũng sẽ yên bình.”

Mặc những lời tự nhủ, lòng khao khát gặp lại nàng vẫn bỏng cháy. Ngày mai bắt đầu chuyến tuần tiễu tám ngày cuối cùng của lịch trình biệt phái. Kể cả hai ngày hải hành từ An Thới, mười ngày nữa tàu anh sẽ cập bến Bạch Đằng. Liệu Giáng Sinh này anh và nàng có được sánh vai cùng thiên hạ dạo phố ngập ánh đèn màu?

Quay về tán dù, anh giật mình khi chiếc ghế tựa đã có người chiếm. Một cô gái trẻ, áo trắng, quần kaki, mái tóc ngắn, đôi mắt to. Khuôn mặt đẹp nhưng nhăn nhó khó chịu. Giọng khàn khàn:

– Tôi đành thất lễ: anh thật bất lịch sự! Nhìn gì như muốn nuốt sống người ta!

Anh mỉm cười:

– Xin lỗi, tôi không cố ý. Chỉ ngạc nhiên vì chiếc ghế tôi vừa ngồi bị chiếm mất.

Cô nàng hất mặt, khẽ gắt:

– Đừng kiếm chuyện làm quen. Tôi không chiếm ghế của ai hết. Chiếc ghế bỏ trống.
– Tôi chỉ mới ra mép nước một chút thôi.

Nàng nhổm lên, bực dọc dịch sang chiếc ghế bên, giọng lạnh:

– Vậy thì tôi trả ghế cho anh đấy.

Võ Bằng vẫn lịch sự:

– Tôi đâu có đòi. Ghế của quán Sóng chớ của tôi đâu. Chẳng qua…

Nàng bất ngờ nhoẻn miệng cười, ngắt lời:

– Tôi hiểu rồi và tôi cũng đã trả lại. Mời anh… hạ bàn tọa.

Anh thoáng phân vân. Bỏ đi thì thiếu bản lĩnh mà ngồi thì không còn hứng thú. Nàng lặp lại, giọng nhẹ hơn:

– Mời anh.

Võ Bằng đành ngồi xuống. Giọng nàng vui vẻ:

– Trông anh không giống dân địa phương.
– Cô nhận xét không sai. Tôi làm việc ở đây thôi.
– Cũng chẳng giống quân nhân hay công chức. Quân nhân, công chức không ai ngồi ở biển giờ này.

Võ Bằng trêu chọc:

– Cô luôn luôn nhận xét không sai. Tôi là… ngư dân.

Tưởng nàng sẽ quê mà câm miệng, nhưng lại tỉnh bơ:

– Ồ, thì ra anh là thợ lặn mò ngọc trai. Nghe nói Phú Quốc có nhiều ngọc trai ngũ sắc, đẹp nhất thế giới.

Anh trả lời cho qua chuyện:

– Cũng có thể.
– Vậy anh chắc giàu… nhất thế giới.

Võ Bằng bật cười:

– Ngọc trai không trôi giạt đầy dưới biển đâu. Tay làm hàm nhai thôi. Còn cô, là ai?
– Lan Như.
– Tôi muốn hỏi nghề nghiệp?
– Cũng như anh, làm việc ở đây.

Anh nhìn chiếc máy ảnh Canon xinh xắn nằm trên bụng nàng:

– Làm việc ở đây, không ai đủ tiền sắm máy ảnh quá đẹp.

Lan Như cười duyên:

– Nhận xét quá đúng. Tôi thuộc… khách qua đường.
– Ở đây mấy ngày rồi.
– Hai.
– Đã đi viếng những đảo nào rồi? Đã chụp hết mấy cuộn phim?
– Hỏi chi kỹ vậy? Có dám mời tôi về nhà, lo luôn cơm chiều không?

Võ Bằng lắc đầu:

– Không dám mời vì biết cô sẽ từ chối.
– Cái cách anh nói chuyện, chắc người Sài Gòn?
– Lần này thì cô đoán sai. Chính cô mới là dân Sài Gòn. Cô đến đây du lịch ư? Hết hè rồi…

Cô nàng mím môi một lúc, rồi hỏi lại:

– Anh biết tên tôi rồi, còn anh?

Võ Bằng nhắm mắt, thoáng xót xa. Đời anh đã vướng khá nhiều giai nhân. Thuở thiếu úy, ba người từng thương yêu, rốt cuộc đều chia tay. Lên trung úy, tu tâm dưỡng tánh. Lên đại úy, vớ phải cô đặc công suýt tiêu tùng sự nghiệp. Nay làm hạm trưởng chưa đầy một tháng đã gặp bốn người đẹp – một đang ngồi bên anh. Không biết cô nàng mang đến phúc hay lại thêm họa?

Anh cố hướng ý nghĩ về Như Oanh. Giờ này chắc nàng đang dạy học. Không biết nàng còn nhớ anh không. Anh chàng nào đó may mắn hơn anh nhiều.

Anh chợt nghe giọng ngọt ngào:

– An Thới có gì đặc biệt, hở anh…

Anh không đáp. Có tiếng ghế cọt kẹt và tiếng càu nhàu:

– Người gì đâu mà bất lịch sự, phách lối…

Khi mở mắt, nàng đã bỏ đi, tà áo trắng phất nhẹ trong gió. Anh nhìn theo, nói nhỏ: – Cám ơn.

***

Sáng hôm sau, buổi thuyết trình hành quân kết thúc lúc 9 giờ. Khi Võ Bằng đứng lên chào từ giã, Tư lệnh Lương Đình Thám mỉm cười:

– Tôi gửi xuống tàu anh một người khách đặc biệt. Ưu tiên giúp đỡ.

Anh chờ nghe rõ hơn nhưng Tư lệnh chỉ bắt tay. Đành băn khoăn cùng Cố vấn Bill cuốc bộ về cầu tàu. Gần cuối cầu, ngang mũi chiếc Rạch Gầm, bóng dáng một thiếu nữ mặc bộ kaki xám, vai đeo túi xách, cổ đeo máy ảnh đang đứng trông ngóng. Khi đến gần, Võ Bằng và nàng cùng sững người.

Lan Như mỉm cười:

– Hoàn toàn bất ngờ. Lan Như xin chào Đại úy Võ Bằng.

Nàng chìa tay. Võ Bằng vui vẻ bắt lấy. Nàng quay sang Cố vấn:

– Hi! Nice to meet you. Lan Nhu, my name.

Cố vấn bắt tay nồng nhiệt:

– Nice to meet you, too. Call me Bill.

Lẽ ra Võ Bằng tra hỏi căn kẽ trước khi cho lên tàu, nhưng nhớ lời Tư lệnh, anh mời Lan Như cùng lên hạm kiều. Sĩ quan trực khám túi xách thật kỹ. Trong lúc chờ, Võ Bằng nhận ra cách Lan Như quan sát: ánh mắt lia nhanh qua từng khẩu súng, từng vị trí – ánh nhìn rất đáng nghi ngờ đối với người quá giang.

Khi đến phòng họp, các sĩ quan đã có mặt đông đủ. Tất cả đứng lên chào. Hạm phó ra dấu mời Lan Như ngồi ghế của anh. Các sĩ quan cùng dãy nhích sang một ghế. Hạm phó ngồi kế Lan Như.

Võ Bằng hỏi nàng:

– Tư lệnh báo gửi người xuống tàu mà không nói rõ để làm gì?

Lan Như mỉm cười:

– Trước hết vô cùng xin lỗi anh Võ Bằng nếu hôm qua Lan Như có lời không phải. Lan Như là phóng viên chiến trường của nhật báo Ngôn Luận. Lan Như từng tham dự các cuộc hành quân của Hải Quân trong sông, hôm nay mong muốn thực hiện một phóng sự về hoạt động trên biển.

Võ Bằng nghiêm giọng:

– Mặc dù có lời gửi gắm, nhưng theo thủ tục, xin cô cho xem giấy tờ liên quan.

Nàng nhấc chiếc xách để cạnh ghế mở lấy xấp giấy tờ trao cho Võ Bằng. Anh chăm chú đọc từng tài liệu:

– Thẻ Căn Cước do Quận trưởng Quận 1 ấn ký.
– Thẻ Báo Chí do Bộ trưởng Bộ Thông Tin ấn ký.
– Giấy Công Tác Ký Giả do Nha Báo Chí ấn ký.
– Giấy phép nhập hạm do Bộ Tư Lệnh Hải Quân Hành Quân Biển ấn ký.

Võ Bằng chỉ thị Trung úy Tuấn tìm cho anh một văn thư có con dấu của Bộ Tư Lệnh Hành quân Biển. Sau khi so sánh tỉ mỉ, anh an tâm nói:

– Đừng lấy làm phiền, chẳng qua ngoài ý muốn.

Anh nhìn một lượt các sĩ quan, giới thiệu:

– Cô Lan Như là phóng viên chiến trường của tờ báo danh tiếng Ngôn Luận. Welcome aboard!

Tất cả vỗ tay, đồng hô: “Welcome aboard!” Võ Bằng nồng nhiệt tiếp:

– Chiến hạm Rạch Gầm chúc cô có dịp diễn đạt các trận đánh như trận Rạch Gầm thuở trước.

Lan Như mỉm cười, mắt long lanh. Có tiếng xì xào thán phục người đẹp chịu chơi. Phóng viên chiến trường đồng nghĩa coi cái chết tựa lông hồng.

Võ Bằng chỉ thị Hạm phó cấp cho Lan Như một phòng ở khu sĩ quan. Trung úy Đặng Thành Tài tạm thay Thiếu úy Dương Công Đức đang dưỡng thương, trách nhiệm về ẩm thực toàn thể thủy thủ đoàn.

Võ Bằng nói qua về công tác tám ngày tới:

– Nhiệm vụ như trước, nhưng trọng yếu hơn. Thổ Châu là tiền đồn ở Vịnh Thái Lan, cách Phú Quốc 100 cây số hướng tây nam, cách mũi Cà Mau 160 cây số hướng tây bắc. Đó là nơi địch tập trung trước khi xâm nhập dọc theo bờ biển hai tỉnh Kiên Giang và An Xuyên. Ngăn chận và tiêu diệt từ xa là trách nhiệm của Trợ chiến hạm Rạch Gầm, ba khinh tốc đỉnh và toàn bộ Duyên Đoàn 42 phối hợp. Khu vực này nhiều hải sản nên đông đảo tàu đánh cá, địch dễ trà trộn. Riêng ngư dân đảo Thổ Châu đã có hàng chục tàu, thêm tàu các nước Mã Lai, Thái Lan. Việc phân biệt không dễ dàng.

Anh hướng về sĩ quan trực, tiếp:

– Cho nhận còi nhiệm sở vận chuyển, chúng ta lên đường.

Tiếng còi nhịp vang, thúc hối. Trên đường lên đài chỉ huy, Võ Bằng siết chặt tay vịn cầu thang, cảm giác bất an len lỏi. Bất chấp các giới chức thẩm quyền ký tên xác nhận, anh vẫn mong Lan Như không phải là một Phan Kim Phượng thứ hai.

 

CHƯƠNG 19
TIẾN VỀ QUẦN ĐẢO THỔ CHÂU
(tiếp theo)

Hải trình đến Thổ Châu khác xa mọi chuyến trước. Thay vì rẽ trái hướng vào bờ như khi đi Nam Du hay Hải Tặc, Trợ chiến hạm Rạch Gầm lao mũi chếch phải, bung hết tốc lực đường trường ra khơi. Với vận tốc mười hai gút, con tàu phăng phăng rẽ sóng đến vùng chỉ định. Trời trong, gió nhẹ, biển êm như lời mời gọi dịu dàng đầy hứa hẹn.

Vừa qua khỏi Hòn Móng Tay, ba hải lý phía Nam Hòn Thơm, Võ Bằng xem lại hải trình, chỉnh độ giạt bù trừ hướng gió rồi giao lại trách nhiệm hải hành cho sĩ quan đương phiên. Anh trở về buồng riêng, bật băng nhạc. Tiếng hát Lệ Thu trong trẻo, ngọt ngào vang lên, xoa dịu mọi mỏi mệt, lo âu. Đó là thói quen, một cách giải tỏa sau những giờ căng thẳng trên đài chỉ huy. Giai điệu quen thuộc Ngậm Ngùi, Mùa Thu Trong Mưa, Thuyền Viễn Xứ, Xin Còn Gọi Tên Nhau gợi nhớ những chiều cuối tuần ở Queen Bee, thuở còn làm thuyết trình viên Trung Tâm Hành Quân Hải Quân trại Bạch Đằng. Hình ảnh các giọng ca thần tượng hoàn toàn thay thế các bóng hồng…

Đúng mười hai giờ, Võ Bằng xuống phòng ăn sĩ quan. Tất cả đứng lên chào. Anh ra hiệu mọi người ngồi, rồi quay sang chiêu đãi viên: “Mời cô Lan Như.”

Nàng xuất hiện với vẻ e dè. Võ Bằng lên tiếng:

– Mỗi bữa, cô dùng cơm với chúng tôi.

Lan Như lắc đầu, nhỏ nhẹ:

– Xin cảm tạ. Tôi có mang theo lương khô.
– Cứ để dành. Ăn chung cho vui.

Lan Như ngập ngừng:

– Vậy… xin cho tôi được đóng góp.

Võ Bằng cười, lắc đầu:

– Chuyện nhỏ. Mời cô ngồi.

Hạm phó nhường chỗ. Sĩ quan xê dịch. Võ Bằng tiếp lời:

– Mọi người đều đeo bảng tên, cô làm quen dần vậy.

Chợt nhớ vị cựu Hạm trưởng Đống Đa thường mở lời thăm hỏi dành cho “khách quá giang” Phan Kim Phượng, anh hỏi Lan Như:

– Cứ nói thật, không có điều gì phiền lòng về tiếp đãi chứ?

Lan Như nở nụ cười tươi tắn:

– Thưa, hơn cả mong đợi.
– Về ẩm thực, tuy không bằng nhà hàng, nhưng chắc chắn không thua… lương khô. Mời cầm đũa.

Lan Như cúi nhìn mâm cơm, mắt sáng lên:

– Chà! Canh chua, cá kho, đậu xào thịt bò – toàn món ưa thích.

Không khí trở nên ấm cúng. Võ Bằng chan canh vào cơm. Cố vấn Mỹ cầm đũa thuần thục. Mọi người lặng lẽ ăn. Tiếng muỗng chạm vào tô, tiếng chén đặt lên bàn. Một lúc sau, Võ Bằng ngẩng lên:

– Với tư cách phóng viên, cảm tưởng đầu tiên của cô về Rạch Gầm?

Lan Như vừa nhai vừa suy nghĩ. Gọi “anh” như hôm qua có lẽ không ổn. Xưng “tôi” nghe xa cách. Cuối cùng nàng chọn:

– Thưa Hạm trưởng, Lan Như…

Võ Bằng lắc đầu ngắt lời:

– Cô gọi chúng tôi là anh được rồi.

Lan Như mỉm cười:

– Thưa anh. Lan Như thấy… súng mà phát sợ. Từ mũi đến lái, chỗ nào cũng súng với súng. Khẩu ở mũi thật đồ sộ.

Mọi người khẽ cười. Không khí dịu lại. Võ Bằng hỏi tiếp:

– Còn gì nữa?
– Thủy thủ sung sướng hơn bộ binh nhiều. Bộ binh hành quân vất vả. Súng vác, đạn đeo, hành trang lỉnh kỉnh. Còn thủy thủ được tàu chở đi, có người nấu nướng, có máy nước uống.

Thiếu úy Ngô Quang lên tiếng:

– Bộ binh vất vả thật, nhưng chúng tôi cũng có nỗi khổ riêng. Say sóng – nhiều người ta thán thà chết còn hơn!

Lan Như mỉm cười:

– Tôi có thấy sóng gió gì đâu! Êm ru mà!

Trung úy Tuấn nói:

– Do cô may mắn gặp ngày đẹp trời đó!

Hạm phó Tiến cười:

– Khi ra khơi, chúng tôi được tăng phụ cấp ăn uống, nhưng nghịch lý là sóng to gió lớn thì… ăn vô nhả ra!

Tiếng cười rộ lên. Võ Bằng dịch cho cố vấn.

Lan Như chớp mắt, tinh nghịch:

– Tôi hy vọng có dịp nếm thử… ăn vô nhả ra!

Mọi người lại cười. Giọng nàng dịu dàng:

– Lại phải so sánh: bộ binh ngủ bờ ngủ bụi, còn thủy thủ thì giường ấm nệm êm.

Võ Bằng nhún vai:

– Đó là cách bù đắp cho nhiều tháng xa nhà, và cũng để dưỡng sức đối phó sóng gió. Cô từng đi hành quân với bộ binh lâu nhất bao lâu?
– Nửa tháng. Nhân đây, xin cám ơn đã cho tôi một buồng đầy đủ tiện nghi, giường ấm nệm êm.

Võ Bằng đặt đũa, nhìn thẳng nàng:

– Hành quân sống chết trong gang tấc. Cô trẻ đẹp, sao chọn nghề nguy hiểm?
– Lan Như thích từ nhỏ. Thích phiêu lưu mạo hiểm.
– Thiếu gì cách phiêu lưu không nguy hiểm.
– Nhưng phiêu lưu nào cũng phải tốn kém, trừ tháp tùng hành quân. Phiêu lưu mà còn được trả lương!

Mọi người bật cười. Hạm phó xen vào:

– Cô làm phóng viên từ bao giờ?
– Năm 1965, từ phóng viên thành phố thành phóng viên chiến trường. Của nào tiền nấy!

Hạm phó hỏi thêm:

– Vậy cô thành phóng viên chiến trường lâu chưa?
– Hai năm rồi.

Tiếng Hạm phó chân thành:

– Nên giải nghệ, lấy chồng đi.

Trung úy Tài chen vào:

– Như lấy tôi chẳng hạn!

Lan Như cười khúc khích, mắt long lanh:

– Nếu thích lập gia đình, Lan Như lấy chồng lâu rồi. Anh là người thứ một nghìn lẻ một ngỏ lời. Xin hứa, chừng nào hết thích bay nhảy mà anh chưa có vợ, Lan Như sẽ ưu tiên tìm anh

Cả bàn cười rộ. Võ Bằng gật đầu:

– Đúng là mỗi người một ý thích. Nhiều nhân viên của tôi có chuyên môn mà các hãng xưởng đều cần – cơ khí, điện tử, y tá, kế toán – nhưng họ lại thích phiêu lưu mạo hiểm với chiến hạm. Chuyến đi này đáp ứng đúng ý thích của cô.

Lan Như tròn mắt:

– Đại dương mênh mông, ngày nào cũng như ngày nào, có gì mà gọi là phiêu lưu mạo hiểm?

Võ Bằng nhìn nàng, nói chậm rãi:

– Cuộc chiến này, cộng sản gọi là chiến tranh tổng lực: tuyên truyền, khủng bố, ám sát, tấn công. Bằng mọi giá chúng phải đưa nhiều loại người và vũ khí vào Nam. Nhiệm vụ của chiến hạm là tìm và diệt. Đó chính là phiêu lưu mạo hiểm.

Lan Như ngừng đũa, nhìn Võ Bằng. Lời anh nói khiến nàng lặng đi. Một nhiệm vụ nặng nề nàng không hề nghĩ tới. Nàng nhìn anh bằng ánh mắt nể vì.

Võ Bằng trầm giọng tiếp:

– Chúng tôi không thụ động. Chúng tôi chủ động săn đuổi. Đó là phiêu lưu. Khi đụng trận, đó là mạo hiểm. Do chủ động, chúng tôi bình tâm nhắm mục tiêu tác xạ. Đó là niềm hứng khởi của thủy thủ đoàn.

Lan Như bật cười, cố xua cảm giác nặng nề:

– Rốt cuộc, giống như trò chơi săn đuổi?

Nói xong, nàng nhận ra sự bất kính của mình. Không khí chùng xuống. Võ Bằng nhíu mày, mạch cổ giật nhẹ nhưng giọng anh vẫn bình thản:

– Phải nói đầy đủ: trò chơi chết người! Tuần rồi, rạp Đại Nam có chiếu phim Moby Dick, cô có xem không?
– Có xem. Đó là cuộc săn cá voi, phiêu lưu và mạo hiểm.

Võ Bằng lại nhíu mày. Giọng anh lạnh:

– Không chỉ là săn cá voi. Đó còn là ẩn dụ về niềm tin mù quáng, như tin vào một chủ nghĩa không tưởng. Nhưng thôi, chúng ta nên ăn tiếp.

Không ai nói gì thêm. Sau cùng, anh quay sang Hạm phó:

– Có dịp, Hạm phó kể cho cô Lan Như nghe về những lần săn tàu Bắc Cộng. Chuyện đó sẽ giúp bài phóng sự thêm hấp dẫn.

Hạm phó Tiến liếc nhìn nàng. Ánh mắt chạm ánh mắt:

– Tôi không phải là người kể chuyện hay, nhưng tôi tin qua ngòi bút của cô nó sẽ vô cùng hấp dẫn.
– Cám ơn anh, tôi mong được nghe.

Chiêu đãi viên dọn bàn, mang lên món bánh kẹp sô-cô-la. Anh nói:

– Món điểm tâm này là của cố vấn.

Mọi người cám ơn Bill. Cố vấn hỏi Lan Như bằng tiếng Việt khá rành rọt:

– Lần đầu đi tàu, cô cảm thấy thế nào?
– Tôi thích lắm. Mọi thứ đều mới lạ.
– Sau tám ngày, cô sẽ thấy còn nhiều điều thú vị khác. Khi viết xong bài phóng sự, cho tôi một bản. Tôi sẽ dịch và đăng trên Stars and Stripes.

Lan Như lắc đầu:

– Một vinh dự lớn, tôi không dám nhận. Nhưng anh sẽ có một bản để tùy nghi.

Điều này nhắc nàng nhớ lời chủ bút: cần tin tức đầy đủ về sinh hoạt, chiến trận, kỹ thuật điều động và phản ứng của thủy thủ. Muốn vậy, nàng phải được tự do tìm hiểu.

Chuông điện thoại reo. Đài chỉ huy báo cáo: đã thấy đảo. Võ Bằng, Cố vấn và các sĩ quan đồng đứng dậy. Lan Như nhìn theo, muốn đi cùng, nhưng ngại ngỏ lời. Còn quá sớm để đòi hỏi.

Chiêu đãi viên mời nàng cà phê. Theo thói quen, nàng vừa nhâm nhi vừa suy nghĩ Cả hai người quyền lực nhất trên tàu – Hạm trưởng, Hạm phó – xem chừng đều tỏ ra lạnh nhạt, giữ khoảng cách. Bất lợi thật. Nhưng dù khó khăn thế nào, nàng vẫn phải giữ nhiệt huyết.

Cạn ly, nàng rời phòng ăn, bước qua hành lang vắng lặng về buồng ngủ. Trên giường, chiếc áo lạnh dày có nón trùm đầu được xếp ngay ngắn. Bên cạnh là áo giáp, nón sắt. Thì ra Võ Bằng không hề vô tâm. Nàng chạm tay lần lượt ba món, nghe lòng ấm áp. Nhưng anh vẫn là một người kỳ dị, khó đoán. Nghề nghiệp thúc đẩy nàng tìm hiểu.

Nằm dài trên nệm, nàng cảm thấy mỏi mệt tan dần. Nhưng nỗi cô đơn ùa đến. Ngày đầu tiên mới qua vài giờ mà dài như vô tận. Nàng băn khoăn nghĩ về cuộc phiêu lưu mạo hiểm lần này. Nếu đụng trận, bộ binh còn có nhiều hầm hố ẩn nấp, còn trên tàu, chỉ một áo giáp? Thì đành cầu mong đạn biết tránh mình!

Nàng lắng nghe những âm thanh lạ: tiếng máy tàu gầm gừ, hệ thống thông gió o o. Nỗi khắc khoải khiến nàng thao thức. Căn buồng chật hẹp khiến nàng như nghẹt thở. Nàng nhớ bầu trời rộng, nhớ không khí trong lành nơi rừng sâu.
Không chịu nổi, nàng bật dậy, quyết định lên boong tàu. Qua phòng ăn sĩ quan, dọc theo hành lang dài, vào phòng ăn đoàn viên. Một thủy thủ hỏi nàng cần gì. Biết mục đích, anh đưa nàng đến cánh cửa gài chặt bằng nhiều cần quay. Bằng động tác nhanh nhẹn, anh vặn các cần quay xuôi chiều, cánh cửa nặng nề bật mở.

Ánh nắng chói chang xuyên vào mắt Lan Như. Gió lạnh tạt vào mặt, thơm tho. Nàng bước ra ngoài. Biển mở rộng, những vệt sóng loang ánh bạc. Nàng đi vòng qua mạn trái, dưới gió. Mặt biển êm đềm, óng ánh, mênh mông. Xa xa, vài chiếc ghe câu bơ vơ. Nàng thấy mình cũng đâu khá gì, lạc lõng, bơ vơ. Ban ngày đã buồn tẻ, đêm xuống hẳn càng khủng khiếp. Chẳng lẽ suốt tám ngày chỉ quanh quẩn buồng ngủ và phòng ăn?

– Chào chị, xin lỗi tôi đến hơi chậm.

Nàng giật mình quay lại. Một thủy thủ trẻ gật đầu chào. Nàng hồi hộp hỏi:

– Chậm gì vậy anh?
– Đi tìm chị khắp nơi.
– Có chuyện gì?
– Hạm trưởng bảo tôi nhắn: chị có thể lên đài chỉ huy ngắm quần đảo Thổ Châu.

 

CHƯƠNG 20
CHIA TAY

Một tuần đã trôi qua kể từ đêm Như Oanh nói lời chia tay Vinh. Suốt bảy ngày, nàng vùi đầu vào việc soạn bài giảng dạy. Thỉnh thoảng hình ảnh Vinh, ký ức cũ thoáng hiện về, nhưng rồi câu nói “Bà Bộ trưởng” vang lên như tiếng chuông cảnh tỉnh, giúp nàng vững vàng hơn với lựa chọn của mình.

Sáng nay thứ Bảy, ngày vốn thuộc về Vinh suốt bốn năm ròng. Ánh nắng cuối thu xuyên qua khung cửa sổ, rải những vệt vàng ấm áp lên sàn nhà, không làm tan nỗi hồi hộp đang dâng lên. Nếu Vinh đến, liệu nàng nên lánh mặt hay cứ đối mặt cho rõ ràng, dứt khoát?

Ba mẹ nàng đã ra công ty xuất nhập cảng từ sớm để tiếp nhận lô hàng mới. Căn nhà yên ắng lạ thường như chờ cuộc gặp gỡ chắc chắn là chẳng ai vui.

Đúng 9 giờ, tiếng chuông cửa vang lên. Tim nàng thắt lại. Chờ đến hồi chuông thứ ba, như để tỏ ra không hề ngóng trông, Như Oanh mới từ từ mở cánh cửa.

Vinh đứng đó, trong bộ vest chỉnh tề, bó hồng nhung đỏ thắm trên tay. Nhưng ánh mắt anh không còn vẻ tự tin ngày trước, mà tỏ vẻ ngại ngùng, lúng túng. Hai người nhìn nhau, một thoáng im lặng nặng nề. Như Oanh đón bó hoa để không mở rộng vòng tay như mọi khi. Nàng khẽ nói:

– Mời anh vào.

Vinh bước theo nàng vào phòng khách. Anh ngồi xuống chiếc sofa mà trước đây anh vẫn xem như một phần không gian dành riêng cho anh và nàng. Như Oanh cắm hoa vào bình đặt lên bàn, rồi ngồi đối diện, thay vì vẫn cạnh kề nhau. Giọng Vinh có phần hối hả:

– Cám ơn em đã tiếp anh. Anh… anh đã sợ là em không muốn gặp mặt nữa.

Như Oanh cúi mặt, im lặng. Vinh lại tiếp:

– Anh xin lỗi về chuyện hôm trước. Anh đã có phần thô lỗ. Mong em bỏ qua cho anh…

Như Oanh ngẩng lên, giữ giọng điệu bình thản:

– Anh không cần phải xin lỗi. Suốt bốn năm qua em đã yêu anh, và biết ơn anh cho em những ngày tháng hạnh phúc ấy. Nhưng chuyến đi An Thới vừa rồi giúp em hiểu rõ mình muốn sống thế nào. Ở đó, con người bình dị, thiên nhiên thanh tịnh. Em thấy hoàn toàn thích hợp với em không như lối sống sang trọng, phô trương, hời hợt. Nghĩa là em nhận ra anh không còn là người đàn ông em mơ tưởng.

Vinh vội đáp lời:

– Em muốn sống ở đâu, anh cũng chiều. An Thới, Nha Trang, hay bất cứ tỉnh nào anh đều đồng ý. Em muốn anh thay đổi thế nào, anh sẽ làm đúng như vậy.

Nàng thở dài, nhìn thẳng vào mắt anh:

– Nói thì dễ lắm. Nhưng bản tính đâu dễ thay đổi. Anh là người của chức vị, của uy quyền và danh vọng. Một khi rời những thứ ấy, anh sẽ khổ, và người khổ cùng anh – là em. Thử tưởng tượng anh làm một công chức tỉnh lẻ. Chắc chắn chỉ ngày một ngày hai là anh bất mãn. Rồi anh sẽ cáu gắt hơn, và rồi chính anh sẽ là người đòi ly dị.
– Không! Không bao giờ có chuyện đó xảy ra. Anh hứa với em.

Giọng nàng vẫn nhẹ nhàng:

– Em không tin vào những lời hứa, kể cả của chính em!
– Nhưng ít nhất hãy cho anh một cơ hội…

Nàng bước đến lấy từ tủ lạnh ra một lon bia cho Vinh và một ly nước lạnh cho mình. Vừa ngồi lên ghế, nàng nâng ly uống vài ngụm. Khoảng lặng kéo dài. Ánh sáng ngoài cửa sổ hắt lên gương mặt nàng, u buồn, lạnh lẽo.

Vinh nhìn lon Budweiser nhưng không khui uống. Anh lặp lại:

– Như Oanh, hãy cho anh một cơ hội.

Nàng sửa thế ngồi, lên tiếng:

– Còn một điều nữa. Chính điều này khiến em dứt khoát…

Vinh ngạc nhiên, mắt mở to chờ đợi. Giọng nàng nghèn nghẹn:

– Trong Đêm Màu Hồng, anh nói thẳng với em: “Sao không nghĩ, một ngày nào đó, người ta sẽ gọi em là “Bà Bộ trưởng”?

Vinh vội xua tay:

– Anh chỉ muốn nói em xứng đáng có một cuộc sống sang giàu…

Như Oanh lắc đầu, giọng đầy chua chát:

– Tham vọng của anh, tự nó không có gì sai. Nhưng anh đem tham vọng ấy để gắn lên người em thì đó là sự xúc phạm. Em yêu con người của anh, chứ không phải vì tương lai thành “Bà Bộ trưởng”.
– Anh… anh xin lỗi. Anh không có ý đó.
– Khi còn là người yêu mà anh đã nghĩ như thế, thì khi thành vợ chồng, anh sẽ còn buông những lời nặng nề nào nữa? Khi nhân sinh quan khác biệt, tốt nhất là đừng làm khổ nhau.

Vinh cúi mặt, dáng vẻ khốn khổ, bất lực. Rồi bất ngờ ngẩng mặt, ánh mắt sắc lạnh:

– Vậy là… em đã có người khác rồi, phải không? Cái người ở An Thới đó?

Như Oanh bình thản:

– Đây là chuyện giữa anh và em, không ăn nhằm gì đến ai khác.

Vinh đứng phắt dậy, mặt đỏ gay. Như Oanh thản nhiên ngước nhìn. Vinh cố kìm nén cơn thịnh nộ, giọng run lên:

– Được rồi! Em muốn chia tay thì chia tay!

Anh quay người, bước những bước dài nặng nề ra cửa. Tiếng động cơ xe nổ rền, khục khặc phóng vụt đi. Như Oanh bước đến tựa lưng vào cánh cửa nhìn theo. Một cảm giác trống rỗng mênh mông ùa về. Hai hàng nước mắt trào ra, không vì tiếc nuối mà vì nhẹ nhõm.

Sáng hôm sau, Như Oanh đang ngồi soạn bài giảng dạy tuần tới thì mẹ bước vào. Giọng mẹ nhẹ nhàng:

– Oanh, ba chờ con dưới nhà.

Tim nàng khẽ chựng lại, và đoán là chuyện của Vinh. Xuống phòng khách, nàng thấy ba đang ngồi nghiêm trên ghế. Mẹ ngồi xuống bên cạnh, nét mặt trầm tư. Không khí có phần căng thẳng.

Ba nàng hắng giọng:

– Con ngồi xuống đi.

Như Oanh e dè ngồi, cố giữ bình tĩnh. Nhưng khi chạm phải ánh mắt nghiêm nghị của ông, một làn sóng bối rối khẽ dâng lên…

Giọng ông Khải ôn tồn, nhưng đi thẳng vào vấn đề:

– Ba vừa nói chuyện với ba của Vinh. Ông ấy bảo con giận Vinh nên không chịu làm lễ hỏi nữa. Có đúng không?

Như Oanh khẽ gật đầu:

– Dạ, đúng. Nhưng con không giận, chỉ là thấy… không thể sống với anh ấy.
– Chuyện gì đã xảy ra? Bốn năm vui vẻ, sao tự dưng đổi ý?
– Tụi con khác nhau quá, thưa ba. Anh ấy nóng nảy, và… không tôn trọng con.

Ông Khải nhíu mày:

– Nóng nảy thì sửa được. Còn không tôn trọng là sao?
– Ảnh cho rằng con mê ảnh vì tương lai ảnh làm bộ trưởng.

Ông Khải cau mày:

– Nó chỉ muốn con có cuộc sống khá hơn thôi. Bao cô mơ được như con.
– Nhưng con không muốn bị đo bằng tiền bạc hay chức vụ.

Nàng quay nhìn mẹ, tìm kiếm một sự đồng cảm:

– Thưa mẹ, nếu ngày xưa ba cũng phô trương như vậy, liệu mẹ có chịu làm vợ ba không?

Mẹ nàng nhẹ giọng:

– Con à, tình yêu bốn năm đâu dễ bỏ. Hãy cho nó một cơ hội.
– Nhưng con không muốn có một người chồng ba hoa, và thô lỗ. Ngay giữa chốn đông người, anh ấy cũng đã lớn tiếng với con.
– Bởi vậy nó mới hạ mình đến xin lỗi. Con còn muốn nó phải làm gì hơn nữa?
– Ba đối với mẹ lúc nào cũng dịu dàng, ân cần. Ba muốn con mình sau này bị chồng nạt nộ, rồi xin lỗi, rồi lại nạt nộ sao? Con không thể chấp nhận một cuộc sống như vậy.

Bà Khải dịu dàng:

– Con à, mẹ hiểu lòng con. Nhưng bỏ qua đi. Nó đã hạ mình xin lỗi rồi!
– Mẹ à, mẹ biết đó, “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Con không muốn cả đời phải bị ràng buộc với một người có tính tình như vậy.

Ông Khải thở dài. Quẹt lửa bật ba lần mới cháy, ông châm thuốc. Khói vờn quanh khuôn mặt u buồn:

– Con biết đó, việc làm ăn giữa ba và ba nó đang ở giai đoạn quan trọng. Nếu con rút lui, có thể hỏng hết.

Như Oanh nhìn thẳng vào ba, giọng kiên quyết:

– Chuyện làm ăn của ba không liên quan đến tụi con. Hai đứa mới gặp nhau sau này…
– Con đã hứa về lễ hỏi. Giờ con rút lui, người ta bảo gia đình mình thất tín.
– Lời hứa là của con. Con có quyền rút lại nếu thấy sự tình không đúng như lúc hứa.

Ông Khải trân trân nhìn con gái. Nó quá giống chị nó ngày nào: thẳng thắn, cương nghị, lý lẽ vững vàng. Ông đổi giọng nhẹ nhàng hơn:

– Con quên một mối ràng buộc. Đó là ân nghĩa giúp con được dạy học ở trường gần nhà.
– Con không hề nhờ anh ấy. Anh ấy tự nguyện giúp. Dù sao, con cũng đã nghĩ đến chuyện sẽ xin đi dạy ở một nơi khác, để tránh những lời dị nghị.

Bà Khải kêu lên, giọng lo lắng:

– Không được đâu con! Ba mẹ chỉ còn mỗi mình con ở bên cạnh. Mẹ không muốn con đi xa.

Như Oanh chồm tới, nắm lấy tay mẹ:

– Mẹ à, nếu con lấy anh Vinh, thì con cũng phải theo chồng về nhà khác.

Ông Khải hít một hơi thuốc thật sâu, từ từ nhả khói. Ông hỏi:

– Ba của Vinh còn nói… con đã để ý người khác. Có thật không?

Nàng cúi đầu. Mẹ nàng ngạc nhiên, kêu lên:

– Thật sao? Sao có thể được!

Nàng đắn đo, rồi dứt khoát thưa:

– Con xin nói rõ, chuyện này không phải là lý do con tuyệt giao với anh Vinh. Con chỉ mới quen, tình cờ trong bữa tiệc ở nhà anh Thám. Chưa có gì rõ ràng, thậm chí không chắc gì gặp lại nhau.

Ông Khải hỏi dò:

– Người đó là ai?
– Cùng nghề với anh Thám… Hải quân. Nghe nói anh ấy là Hạm trưởng.

Ông Khải bật cười khô khốc:

– Hạm trưởng nghe thì oai, nhưng cũng chỉ là sĩ quan. Lương đâu đủ lo cho con?
– Chị con vẫn hạnh phúc dù đạm bạc.
– Con à, chị con đã sáu năm không có nổi căn nhà. Đời sống thì năm nay nơi này, năm tới nơi khác, y như tàu lênh đênh. Nhà này một hải quân là đủ rồi!
– Con cũng như chị, đó là cuộc sống con ước mơ. Còn hơn vạn lần, năm này qua năm khác, suốt ngày nghe lải nhải về hợp đồng, thuế má, thống kê…

Nàng nắm tay mẹ, giọng tha thiết:

– Ba mẹ đã cho chị của con quyền chọn chồng. Xin hãy cho con được như vậy. Con chọn – con chịu trách nhiệm.

Mẹ nàng đặt tay lên tay chồng, cười hiền hòa:

– Ngày xưa em cũng vậy thôi, anh nhớ chứ?

Khói thuốc bay lên, tan dần. Ông Khải nhìn vợ, rồi nhìn con. Trong ánh mắt ông chợt có nét dịu dàng, pha chút hoài niệm:

– Ba mẹ con sao giống nhau dữ. Ngày xưa, ba cũng chỉ là công chức nhỏ, nhưng mẹ con tin ba. Đúng là đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn…

Ông ngừng, giọng trầm xuống:

– Ba chỉ sợ con khổ. Chỉ sợ con tránh vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa. Nếu người đó thật lòng, đủ bản lĩnh, hãy để ba mẹ gặp.

Giọng nàng buồn buồn:

– Con không biết có duyên gặp lại anh ấy không. Con cũng không biết ảnh có thương con không, có ước muốn cưới con không. Chỉ là linh cảm….
– Nếu có duyên gặp lại, con đối xử thế nào?
– Con sẽ tìm hiểu thêm về tư cách, tính tình. Nếu anh ấy độc thân, đàng hoàng và muốn tiến đến hôn nhân con sẽ đưa đến gặp ba mẹ.

Ông Khải trang nghiêm nhìn con gái:

– Vậy ba hỏi con điều cuối cùng. Nếu sau khi ba mẹ tìm hiểu và đi đến kết luận không đồng ý, con có nghe lời ba mẹ không?

Như Oanh nhìn sâu vào mắt ông, nụ cười tươi nở trên môi. Nàng gật đầu, giọng tôn kính nhưng kiên định:

– Dĩ nhiên con sẽ nghe lời ba mẹ, nếu thấy… thuyết phục.

 

CHƯƠNG 21
TIỀN ĐỒN BIỂN TÂY NAM

– Tôi tên Lan Như. Còn anh?
– Thủy thủ Hoàng Lâm.

Hai người men theo hành lang hẹp, rồi leo lên một chiếc thang sắt dựng đứng mười bậc dẫn lên boong trên. Gió mạnh hơn. Phía trước và phía sau sân thượng mỗi nơi một khẩu đại bác 40 ly nằm im như hai vị thần canh phòng. Lại bước lên một cầu thang nghiêng mười bậc nữa để vào đài chỉ huy sáng sủa, khoảng khoát.

Bảy người hiện diện: hạm trưởng đứng bên cánh phải cùng cố vấn; cánh trái là sĩ quan và hạ sĩ quan trực phiên; giữa đài chỉ huy, một thủy thủ ngồi trên ghế cao nắm chặt bánh lái; hai bên anh là quan sát viên và điện thoại viên. Lan Như đứng canh trụ la bàn thích thú mở tầm mắt lên biển mênh mông, rải rác hàng trăm ghe đánh cá im lìm phơi nắng.

Rạch Gầm đã giảm tốc độ, len lỏi theo khoảng trống giữa các dãy phao đen đánh dấu lưới cá. Sĩ quan trực phiên liên tục ra lệnh chuyển hướng trong khi vẫn quan sát tìm ngư thuyền có danh bộ lạ, những ngư thuyền không mang số mã các tỉnh miền Nam như KG tức Kiên Giang hoặc AX tức An Xuyên theo sau một dãy số. Bọn xâm nhập có thể giả danh bộ nhưng hình dáng tàu thì vẫn khác biệt.

Thấy Lan Như, Võ Bằng bước lại gần, giọng dịu êm:

– Đài chỉ huy Rạch Gầm hân hạnh tiếp đón phóng viên Lan Như. Thật hân hạnh.

Lan Như thoáng ngạc nhiên vì thái độ thân tình đột ngột. Nàng đáp bằng giọng giữ khoảng cách:

– Thưa anh. Tôi mới là người được hân hạnh.

Võ Bằng thân mật tiếp:

– Để khỏi mích lòng nhau, tôi lưu ý cô vài điểm. Thứ nhất, cô được phép tìm hiểu bất cứ nơi nào – lộ thiên hay trong lòng tàu – ngoại trừ những nơi có bảng “Khu vực giới hạn”. Thứ hai, khi sóng to hoặc về đêm, cô không nên đi một mình bên ngoài. Khi thật cần thiết, hãy gặp hạm phó để cử người tháp tùng. Chúng tôi chỉ muốn phòng ngừa tai nạn trơn trợt, rơi xuống biển.

Anh đổi giọng chậm lại, như để nhấn mạnh:

– Điều nữa, dành cho phóng viên: quần đảo Thổ Châu là nơi tụ họp hàng trăm loại phiêu sinh vật nên tập trung nhiều loại hải sản kéo theo đủ loại ngư thuyền. Đây cũng là khu vực… đấu võ tự do. Luật hàng hải có, nhưng phân định ranh giới thì không nước nào chịu nhượng nhau. Cứ thế mà tranh giành.

Anh nhìn mặt biển thẫm xanh:

– Bởi đông khách vãng lai nên khách bắc cộng dễ trà trộn. Chúng đợi lúc ta sơ hở, liền phóng vào bờ, rồi rút lui thần tốc.

Quay sang nàng, anh bất ngờ hỏi:

– Cô mong đụng trận chứ?

Lan Như trầm ngâm. Anh chàng hỏi gì mà kỳ cục! Ai lại ước mong đụng trận! Ai lại mong thấy máu me và xác người. Nhưng nghề nghiệp là nghề nghiệp. Nàng đáp nhỏ:

– Ước mong thì không nhưng đó lại là lý do tôi xuống tàu này. Một phóng viên chiến trường phải chứng kiến và tường thuật trung thực, dù sự thật nghiệt ngã đến đâu.
– Hải quân trong sông đã đưa cô đến những chiến trường nào rồi?
– Hố Lương, sông Hàm Luông, Măng Thít.
– Chúng tôi thường công tác xa bờ nên hiếm khi được đọc báo. Sắp tới đây, chắc phải nhờ cô gửi bài báo đến địa chỉ KBC.
– Rất sẵn sàng.
– Hôm qua không tuần phát hiện hai ngư thuyền khả nghi tiến vào vịnh Thái Lan. Có thể chúng hướng về Thổ Châu. Hy vọng có diễn biến đáng tường thuật.
– Trong khi chờ đợi, tôi xin cám ơn về áo giáp và áo lạnh.
– Ở biển, cuối thu lạnh hơn Sài Gòn.

Lan Như thấy đến lúc vào thẳng nghề nghiệp:

– Thưa anh, tôi được phép tiếp xúc những ai để hiểu về chiến hạm?

Võ Bằng mỉm cười:

– Bất cứ ai.
– Còn chụp ảnh?
– Bất cứ nơi nào, trừ khu vực hạn chế.
– Còn với thủy thủ đoàn?
– Cô cần xin phép từng người.

Nàng nâng máy ảnh:

– Vậy trước tiên, xin phép… hạm trưởng.

Tiếng cười rộn lên khắp đài chỉ huy. Võ Bằng hài lòng với giọng miền Nam êm ngọt, khuôn mặt tươi vui và phong thái tự nhiên, năng động. Anh gật đầu, cợt đùa:

– Được. Nhưng nhớ chỉnh sửa cho tôi đẹp trai được chút nào hay chút nấy.
– Không cần đâu. Bộ mặt phong sương hiện tại là đủ… ăn tiền rồi!

Mọi người lại cùng cười rộ. Võ Bằng chỉ tay chếch phải hướng mũi tàu:

– Cô Lan Như! Đảo Thổ Châu trước mặt.

Nàng nâng máy lên mắt bấm hai hình. Con rùa khổng lồ nằm trên tấm thảm xanh miên man đến tận chân trời. Mai rùa là những khối đá tảng cẩm thạch trắng ngà. Võ Bằng xem hải đồ rồi giải thích:

– Quần đảo Thổ Châu có chín đảo. Chúng ta đã qua một số đảo mà vì thấp nên không thấy. Đó là các Hòn Đá Bàn, Hòn Đá Bắc, Hòn Đá Nam. Đảo Thổ Châu, lớn nhất, cao nhất, nên thấy từ xa. Gần đó là Hòn Cao và Hòn Từ. Tiếp đến là Hòn Kiến, Hòn Xanh, Hòn Nhạn.

Lan Như ghi chép nhanh. Thổ Châu: hải đăng sừng sững như hỏa tiễn trên giàn phóng. Hòn Cao: dải cát trắng như lưỡi liềm. Hòn Từ: đen, rêu phủ mượt mà. Nàng nói:

– Đẹp quá, thưa anh.

Võ Bằng gật đầu:

– Ngoài vẻ đẹp hình thức, quần đảo còn nét đẹp tâm hồn. Đó là điểm cuối cùng của lãnh hải Việt Nam.

Lan Như reo lên:

– A, tôi có tựa cho bài phóng sự rồi: “Thổ Châu, tiền đồn giữa biển Tây Nam”.
– Tựa có hồn lắm.

Nàng hỏi về lai lịch các đảo. Võ Bằng lắc đầu:

– Ngày mai chúng ta đổ bộ, cô tha hồ hỏi người già thổ địa. Tôi chỉ biết quần đảo là một xã thuộc đặc khu Phú Quốc, dân khoảng hai trăm. Một trung đội biệt hải bảo vệ an ninh.

Lan Như hỏi về tổ chức chiến hạm, về sinh hoạt, hành quân, kỹ thuật, nghề nghiệp…

Mãi một giờ sau, Rạch Gầm bắt gặp một ngư thuyền lạ, kiểu tàu và kiểu sơn đều khác. Võ Bằng truyền lệnh khám xét.

Khẩu đại liên trên đài chỉ huy sẵn sàng. Toán khám xét bốn người mang M16, hạm phó mang Colt 45. Lan Như nhảy theo qua ngư thuyền. Nàng bịt mũi khi mùi cá tanh tưởi xộc vào.

Giấy tờ cho thấy đây là tàu Thái Lan. Hạm phó dùng Anh ngữ đơn giản giải thích họ đã vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Họ lắc đầu cố cãi. Nhân viên báo cáo chỉ thấy hải sản, không thấy hàng bất hợp pháp. Hạm phó xin lệnh. Võ Bằng cho lệnh đuổi khỏi vùng kèm cảnh cáo.

Hai tiếng sau, thêm ba ngư thuyền mang danh bộ lạ xuất hiện. Một của Cam Bốt, hai của Mã Lai. Một chủ tàu Mã Lai cưỡng lệnh trục xuất, nhất quyết đây là vùng biển tự do. Giọng ông ta cứng, mắt đỏ ngầu. Rạch Gầm báo cáo Vùng 4. Một duyên tốc đỉnh được điều đến kéo ngư thuyền về An Thới.

Sau khi bàn giao, Võ Bằng cho chiến hạm hướng về mũi Cà Mau, tuần phòng trục Thổ Châu – Hòn Khoai. Máy giảm xuống 6 gút, chậm như dạo chơi mà người thì đều căng mắt quan sát, người thì chú tâm thi hành phần việc giao phó. Sĩ quan hải hành đo gió, tính độ giạt, tránh ghe, xét ghe…

Võ Bằng ghi nhật ký hải hành rồi chỉ thị hạm phó liên lạc mời các đơn vị trưởng dự buổi họp với hạm trưởng trên đảo Thổ Châu sáng mai lúc 10 giờ.

Lan Như có thời gian nhìn Võ Bằng kỹ hơn. Dù không cao bằng cố vấn nhưng tầm vóc gọn gàng, cử chỉ chững chạc khiến anh trông uy nghiêm. Tóc húi cua, cháy nắng. Đôi mắt đen sâu, dưới hàng mi rậm. Gương mặt khắc khổ nhưng đôi môi như lúc nào cũng mỉm cười, làm giảm đi nét xương xẩu. Ánh mắt lúc trầm ngâm thì lạnh lùng, lúc trò chuyện lại tinh nghịch. Và nàng thấy lòng thêm chút cảm tình.

***

Bữa cơm tối đầm ấm. Lan Như vui vẻ trả lời mọi câu hỏi của các sĩ quan. Nàng 26 tuổi. Tốt nghiệp Đại học Văn Khoa. Bốn năm làm phóng viên. Chưa có gia đình và cũng chưa nghĩ đến.

Cứ mỗi khi Lan Như trả lời là anh nghiêng mặt ngắm nàng. Vóc dáng không phải kiểu đẹp lộng lẫy nhưng khuôn mặt thanh tú với đôi mắt sáng toát lên vẻ thông minh và cương nghị. Cách nói chuyện có duyên, thẳng thắn, chuyên nghiệp, từng trải. Trong cuộc tuần phòng đơn độc giữa biển khơi, có được một người đồng hành như nàng thì coi như… trời ưu ái!

Trong lúc ăn tráng miệng và uống cà phê, Võ Bằng thân ái hỏi:

– Cô từng tháp tùng hành quân với nhiều đơn vị bộ binh, vậy khác với ngoài biển ra sao?
– Hoàn toàn khác lạ. Không gian lạ, nếp sống lạ. Bộ binh thì bụi đời, vất vả; hải quân thì lúc nào cũng tươm tất, nhàn hạ.

Cả bàn bật cười. Võ Bằng đấm nhẹ lên bàn, phản đối:

– Cô đưa nhận xét đó vào bài viết là thiếu công bằng. Như cô thấy đó, khi tàu rời bến, mọi người cũng đều vất vả, bụi đời.

Lan Như mỉm cười:

– Đồng ý mọi người vất vả nhưng ngoài biển… không có bụi.

Tiếng cười lại rộ lên. Võ Bằng lắc đầu:

– Tôi sợ lối ngụy biện của cô. Còn nhận xét nào… ác độc nữa không?

Lan Như cười tươi:

– Bây giờ thì vào chính đề. Thưa anh, cho biết tổng quát về lực lượng Hải Quân.

Võ Bằng nhìn quanh:

– Ai đáp lời cô Lan Như?

Thiếu úy Bùi Anh Tuấn ngồi cuối bàn:

– Theo tôi còn nhớ, năm 1955, Pháp bàn giao lực lượng Hải Quân cho chính phủ Ngô Đình Diệm. Lúc đó có 4 ngàn người và 200 tàu đủ loại. Hiện tại đã tăng lên 15 ngàn người và 900 tàu. Mười bốn năm, hải lực tăng khoảng bốn lần.

Thiếu úy Đỗ Văn Lũy giơ tay:

– Tôi từng phục vụ khối quân huấn nên có biết việc tăng trưởng của Hải Quân. Dự phóng từ nay đến ba năm tới, Hoa Kỳ sẽ lần lượt chuyển giao tất cả chiến hạm, chiến đỉnh và các căn cứ của họ đang tham chiến cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Do đó Khối Quân Huấn phải đào tạo 27 ngàn thủy thủ. Các sĩ quan tương lai thì theo học ở ba trường Thủ Đức, Sinh viên Sĩ quan, và OCS ở Mỹ. Các hạ sĩ quan và thủy thủ thì có Trung tâm Huấn Luyện Nha Trang, Cam Ranh và ACTOV.

Lan Như hỏi:

– OCS và ACTOV là gì?

Thiếu úy Lũy:

– Xin lỗi quen miệng. OCS là viết tắt của chữ Officer Candidate School. Còn ACTOV là Accelerated Turn Over, chương trình chuyển giao cấp tốc đơn vị Hoa Kỳ cho Việt Nam. Chương trình này đã khởi sự thực hiện từ đầu năm nay.
– Xin cho biết về chiến thuật, chiến lược của Hải Quân.

Võ Bằng đáp gọn:

– Trả lời đầy đủ thì dài dòng. Tóm tắt là thế này. Về chiến lược: bảo vệ biển đảo, kiểm soát sông ngòi. Phối hợp liên quân. Về chiến thuật: tuần tiễu, chận xét, truy kích, tiêu diệt. Mỗi chủ đề có những chi tiết thực hành. Thí dụ về tuần tiễu: xác định loại mục tiêu, tốc độ, hướng đi. Giữ khoảng cách một hải lý. Tiếp cận chéo góc tránh bị tấn công bất ngờ. Dùng 76 ly bắn đài chỉ huy địch, 40 ly kép quét triệt tiêu hỏa lực.
– Tại sao không bắn chìm?
– Đó là giải pháp cuối. Bắt sống trọn tàu có lợi hơn.

Lan Như nhìn quanh bàn, nhỏ nhẹ nói:

– Thưa quý anh, tháng rồi tôi có tham dự lễ khánh thành tượng Đức Thánh Trần ở công trường Mê Linh bến Bạch Đằng. Hôm đó tôi có thắc mắc nhưng nhiều việc nên quên. Xin cho biết hình ảnh Ngài chỉ tay xuống dòng sông mang ý nghĩa gì?

Võ Bằng hỏi:

– Ai trả lời câu hỏi này?

Trung úy Bùi Anh Tuấn đáp nhanh:

– Năm 1285, khi vua Trần Thánh Tông muốn hàng trước thế giặc mạnh, Đức Trần Hưng Đạo khẳng khái nói: “Bệ hạ chém đầu thần rồi hãy hàng”. Ba năm sau, quân Nguyên lại xâm lược. Lúc khởi binh đánh trận Bạch Đằng, Ngài chỉ tay xuống dòng sông Hóa thốt lời thề khẳng khái: “Không thắng giặc, thề không trở lại bến sông này.”

Lan Như lặng đi. Tiếng máy tàu mà nàng tưởng như tiếng sóng đang gầm đâu đó, vọng về từ Bạch Đằng xa xưa. Nàng hỏi:

– Có phải Hải Quân tôn Ngài làm Thánh Tổ vì ba chiến thắng lớn?
– Đúng. Đó là ba trận Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng. Nhưng hơn thế nữa: Ngài rất hiểu biển, hiểu dân, hiểu sức mạnh đoàn kết.
– Vua nào sắc phong Ngài là Thánh?
– Không có vua nào sắc phong hết. Toàn dân tin Ngài là linh tướng trấn giữ đất nước, độ dân bình an. Tỉnh nào cũng lập ít nhất một bàn thờ thờ Ngài.

Lan Như trầm tư một lúc rồi thở dài:

– Ngày xưa học sử, tôi học như con vẹt. Không thấy ý nghĩa sâu xa! Cám ơn các anh.

Võ Bằng mỉm cười, giọng trầm ấm:

– Còn sâu xa hơn, Đức Thánh Trần không chỉ là một tướng giỏi, mà còn là nhà tư tưởng.

Lan Như ngac nhiên:

– Nhà tư tưởng?
– Cô chưa đọc “Hịch Tướng Sĩ” và “Binh Thư Yếu Lược”?
– Tôi chỉ học “Hịch Tướng Sĩ”.
– Đó là một thiếu sót lớn với một phóng viên.

Lan Như mím môi, nhăn mặt:

– Quyển ấy quá xưa rồi, giờ còn ích gì?
– Ngược lại, đó là một binh pháp cho mọi thời đại. Chiến trường đâu chỉ là súng đạn…
– Xin anh nói rõ …

Võ Bằng đứng lên, dáng mạnh mẽ:

– Bữa cơm đã lâu, trời cũng đã tối. Tôi phải lên đài chỉ huy. Trưa mai tiếp tục…

Anh lững thững ra cửa. Đang háo hức muốn biết mà Võ Bằng tỉnh bơ bỏ đi, Lan Như ấm ức nhìn theo. Nàng lẩm bẩm: “Được rồi! Anh làm khó tôi. Ngày mai sẽ biết tay!”

 

CHƯƠNG 22
ĐỔ BỘ THỔ CHÂU

Rạch Gầm ngưng máy, thả trôi trong vịnh phía tây đảo Thổ Châu, cách bãi Ngự hai cây số. Tiếng xích khua, tiếng ầm của chiếc neo sầm sập đổ xuống chìm sâu 18 thước. Con tàu khựng lại báo hiệu neo đã bám. Đồng hồ chỉ 10 giờ 5 phút.

Gió nhẹ nhàng như hơi thở của đại dương. Ánh nắng dát vàng lên mặt vịnh, nước trong vắt để lộ một thế giới vô cùng kỳ ảo: những rạn san hô hình nấm màu tím ngát đến những rạn như cành cây màu đỏ rực, các bụi cỏ biển mềm mại uốn lượn, các đàn cá nhỏ thong dong và những bóng cá thu nháng bạc thoắt ẩn thoắt hiện như những chiến đấu cơ tí hon đang tuần phòng lãnh hải riêng của mình.

Từ chiến thuyền áp sát, Thiếu úy Lê Trung Cang bước lên boong Rạch Gầm với dáng vẻ dứt khoát. Đúng lúc ấy, Hạm trưởng Võ Bằng cùng cố vấn Mỹ và nữ phóng viên Lan Như từ đài chỉ huy bước xuống. Thiếu úy nghiêm chào rồi mời qua chiến thuyền.

Võ Bằng căn dặn Hạm phó Tiến:

– Cẩn thận canh chừng neo trốc. Cho nhân viên không trực lên đảo nhưng giờ chót về tàu là 2 giờ chiều.
– Rõ, thưa Hạm trưởng.

Võ Bằng hỏi Thiếu úy Cang:

– Anh giúp cho ghe đưa đón được chứ?
– Dạ được.

Bãi Ngự hiện ra như một dải lụa trắng mềm mại ôm lấy triền cát hình cánh cung. Những chiếc thuyền thúng đậu san sát cùng với vài đứa bé đang chạy nhảy trên bãi cát.

Những mái nhà tranh lẩn trong rừng dừa và những cây bàng cổ thụ, tạo thành bức tranh thủy mặc an nhiên, thư thái. Phía cuối đảo, những đợt sóng không ngừng vỗ vào ghềnh đá rong rêu, vẽ nên một đường viền trắng xóa. Xa khơi, nhiều ghe câu rải rác im lìm như còn chìm sâu trong giấc ngủ.

Nơi bãi ủi, một số người đang đứng lóng ngóng. Khi phái đoàn đã lên bờ, một trung niên vạm vỡ bước đến chào:

– Xã trưởng Phan Văn Tâm xin chào Hạm trưởng và phái đoàn.

Võ Bằng bắt tay:

– Rất vui được gặp xã trưởng.

Cố vấn nồng nhiệt bắt tay. Tiếp theo là Trung úy Trương Văn Hiền, trưởng toán Duyên tốc đỉnh và Chuẩn úy Cao Thanh, trưởng toán hải kích. Một số dân đảo tò mò nhìn. Năm đứa bé bám theo Lan Như vuốt ve chữ “Báo Chí” trên áo khoác và xin chụp hình. Lan Như chụp từng đứa. Đứa nào cũng tỏ vẻ vui thích dù không thấy hình ra sao.

Xã trưởng Tâm vồn vã mời về trụ sở. Đó là một căn nhà mái tranh vách đất rộng lớn. Khói hương trầm từ bàn thờ quyện không gian tĩnh lặng. Bàn ghế kê thành hình chữ U. Mỗi chỗ ngồi để sẵn một ly nước dừa. Tấm hải đồ quần đảo Thổ Châu với chín đảo lớn nhỏ treo trang trọng trên tường thu hút mọi tia nhìn. Lan Như vội chụp vài ảnh rồi ghi tốc ký sự kiện vào sổ tay.

Khi tất cả an vị, Xã trưởng lên tiếng:

– Thưa Hạm trưởng và quý vị. Đảo Thổ Châu rất hân hạnh được đón tiếp Hạm trưởng và quý vị. Với tư cách xã trưởng, tôi xin tiếp nhận mọi câu hỏi về hành chánh và trả lời theo hiểu biết. Về quân sự, có Trung úy Hiền.

Võ Bằng hỏi về tình hình an ninh và cách thức bảo vệ dân. Xã trưởng đáp:

– Thưa dân số là 495 người, phần lớn là ngư dân. Tình trạng an ninh tốt. Chưa từng xảy ra phá hoại, khủng bố, ám sát.
– Dân số phân phối trên toàn quần đảo ra sao?
– Trong chín đảo, chỉ có đảo này là có dân.
– Lý do?
– Các đảo khác quá khô cằn, không có nước ngọt. Ngay với đảo này, chỉ có Bãi Ngự là ở được. Ở bãi Dong, phía đông, cũng chỉ vài ngư dân tạm trú.
– Gần năm trăm dân, coi như khá đông. Anh cho bảo vệ an ninh ra sao?
– Đảo may mắn được biệt phái cho một trung đội hải kích.

Võ Bằng ngạc nhiên:

– Bảo vệ dân bằng hải kích? Tôi tưởng nghĩa quân đúng hơn.

Chuẩn úy Thanh trình bày:

– Thưa Hạm trưởng, vì Thổ Châu là tiền đồn quan trọng, là đảo biên ải, có Thổ Châu là có chủ quyền phần lớn vịnh Thái Lan nên các nước đều muốn chiếm, nhất là Cao Miên. Hải kích vừa bảo vệ dân vừa bảo vệ đảo.

Võ Bằng gật đầu hài lòng. Lan Như hỏi:

– Chỉ một trung đội, làm sao canh phòng hữu hiệu cho cả chín đảo?

Chuẩn úy Thanh:

– Như anh Xã trưởng trình bày, tám đảo kia khô cằn, họ có chiếm cũng không ở được. Tuy vậy chúng tôi vẫn thỉnh thoảng tung hải kích lên các đảo lục soát.

Lan Như hỏi tiếp:

– Trường hợp phát giác tàu địch mang vũ khí chôn giấu, các anh phản ứng thế nào?
– Hải kích báo cáo Trưởng toán. Chúng tôi phối hợp tung chiến đỉnh, chiến thuyền bao vây, kêu gọi đầu hàng hoặc tiêu diệt.
– Trường hợp chúng bỏ chạy?
– Duyên tốc đỉnh với vận tốc 50 cây số giờ và với hai đại liên dư sức truy đuổi và tiêu diệt.

Lan Như xông xáo tiếp:

– Trong năm qua, kết quả ra sao?

Trung úy Hiền nhíu mày rồi đáp:

– Chúng tôi khám phá nhiều tàu, bắt được bốn, giải giao cho Đặc khu Phú Quốc.
– Bao nhiêu tàu chạy thoát?
– Cũng nhiều. Sau khi được báo, chúng tôi tiến đến thì họ đã rút đi.
– Vậy họ có nội tuyến à?
– Tôi không nghĩ vây. Có thể họ có ghe câu giả dạng canh chừng.

Lan Như hỏi tới:

– Tại sao ta không khám xét bắt ghe giả dạng?

Trung úy Hiền cười:

– Họ ma đầu lắm cô Lan Như ạ. Thấy chúng tôi chạy đến, chỉ việc ném bỏ máy truyền tin, là mọi sự hợp pháp!

Lan Như nghiêm giọng:

– Như vậy, biển là kẻ đồng lõa rồi!

Mọi người bật cười, phá vỡ bầu không khí căng thẳng. Võ Bằng bước đến trước tấm hải đồ, mắt lướt qua mọi người đang lắng nghe. Anh chầm chậm nói:

– Bây giờ chúng ta vào chủ đề buổi họp hôm nay. Tuần vừa qua Bắc cộng cho xâm nhập sáu ngư thuyền chở vũ khí. Khu vực phía đông đã đánh chìm hai chiếc và bắt sống hai. Hai chiếc còn lại chạy thoát ra khơi và không tuần cho biết đang tiến vào vịnh Thái Lan.

Trung úy Hiền hăng hái:

– Các đơn vị bờ phía đông chận được thì phía tây cũng chắc chắn làm được.

Võ Bằng lắc đầu, chỉ lên hải đồ:

– Phía tây của chúng ta không được ưu đãi như phía đông. Phía đông có tới ba đài kiểm báo. Kiểm báo hạm neo ở cửa Cửu Long, đài kiểm báo Côn Sơn và đài Hòn Khoai. Mọi di chuyển của tàu địch đều được thông báo kịp thời. Còn bờ tây, từ đảo Nam Du trở xuống mũi Cà Mau tuyệt không có đài nào. Thổ Châu cũng không.

Võ Bằng uống một hơi nửa ly nước dừa rồi tiếp, giọng dứt khoát:

– Để chận hai chiếc còn lại, chúng ta phải lập một hàng rào chắn từ Thổ Châu đến Hòn Khoai. Và tôi phân công thế này: lực lượng ta chia thành ba toán. Toán một, gồm hai chiến thuyền thuộc Duyên đoàn 42 tuần tiễu quần đảo Thổ Châu. Toán hai, gồm hai duyên tốc đỉnh trách nhiệm trục Thổ Châu – Hòn Chuối. Toán ba, gồm Rạch Gầm và hai chiến thuyền thuộc Duyên đoàn 41 tuần tiễu trục Hòn Chuối – Hòn Khoai. Chúng ta tận dụng radar cơ hữu để phát giác tàu địch. Tầm quan sát hạn chế nhưng có còn hơn không. Chiến hạm Rạch Gầm tổng chỉ huy. Hiệu lực kể từ 8 giờ tối nay. Mời các anh góp ý.

Không ai lên tiếng, anh tiếp:

– Về chiến thuật khi gặp tàu địch, tôi tin là các anh đã biết, nhưng nghe thêm cho nhập tâm.

Võ Bằng tỉ mỉ mô tả các chiến thuật cần được áp dụng. Như cách tạo góc bắn tối ưu, cách ép địch vào thế bất lợi hoặc buộc địch phải ngưng máy chịu sự khám xét và kỹ thuật tê liệt hóa tàu địch. Mỗi lời của Võ Bằng như khắc vào tâm trí những người lính biển.

Lan Như chợt hiểu Võ Bằng không chỉ trình bày cho các sĩ quan mà còn cho bài phóng sự của nàng. Nàng nhìn anh mỉm cười biết ơn. Không một biểu hiệu đáp nhận, anh nghiêm giọng tiếp:

– Trong trường hợp địch xuất hiện cùng lúc hai tàu, chúng ta cần tập trung lực lượng đối phó. Hơn nữa còn tùy địa thế và địa điểm. Lúc đó tôi sẽ xem xét áp dụng chiến thuật thích nghi. Tuyệt đối các anh không được tự tiện phản ứng.

Võ Bằng dừng lại nhìn từng người. Gian phòng vẫn lặng im. Anh tuyên bố:

– Nếu không ai có ý kiến, buổi họp chấm dứt.

Xã trưởng vội nói:

– Mấy thuở được quý vị ghé thăm, xã tôi xin được mời bữa cơm đạm bạc.

***

Bãi biển buổi trưa gió nhẹ man mát. Dưới các ngọn dừa nghiêng nghiêng, bốn bếp than hồng đang rực lửa, bốn bà nội trợ đang nướng các món ăn. Trên chiếc bàn tre dài, bữa tiệc đồ biển đã được bày biện: tôm, cá thu nướng vàng ươm, mực tươi nướng giòn, ghẹ hấp nước dừa, nhím biển và trứng nhạn.

Lan Như nghĩ thầm: “Thế này nhà giàu chưa chắc dám ăn chớ đạm bạc nỗi gì!”

Nàng hỏi một chị đang đứng gần:

– Chào chị. Thức ăn biển, món nào cũng hấp dẫn nhưng không thấy… thịt rừng?
– Dân trên đảo không ai thích thịt rừng dù đảo nhiều chim, nhiều khỉ.
– Có rắn không?
– Không chỉ rắn mà cả trăn. Nhưng chúng hiền lắm, chưa bao giờ cắn ai.
– Còn cọp và gấu?
– Tuyệt nhiên không thấy.

Lan Như ăn thử trứng nhạn. Ngon không thua trứng gà.

– Thưa chị, trứng nhạn chị mua ở đâu? Sài Gòn không thấy bán.

Chị cười:

– Ở đây thiếu gì, ăn không hết. Suốt trọn nửa năm, bắt đầu từ tháng mười, hàng vạn con nhạn tụ họp về đẻ trứng trên một hòn đảo. Chính vì vậy hòn đảo mang luôn tên Hòn Nhạn, ở phía nam đảo này.

Chuẩn úy Thanh nghe được, góp lời:

– Nếu chị thích, tôi sẽ đi hốt trứng biếu chị một thùng.

Lan Như lắc đầu:

– Cám ơn anh, tôi còn công tác lâu ngày, trứng hư hết.

Ngoài trứng nhạn, Lan Như cũng chưa hề ăn nhím. Nàng bước đến bên chị đang nướng nhím. Con nhím đầy gai bao quanh, phải vất vả lắm mới có thể tách hai mà không bị lông nhím đâm đổ máu. Thịt nhím có màu hơi vàng trong chất dẻo như lòng trắng trứng. Nàng quyết định ăn thử nên múc một muỗng, nhắm mắt nuốt ực. Hóa ra hương thơm vị ngọt rất ngon. Và nàng ăn ngon lành hết sạch. Võ Bằng bước đến, cười đùa:

– Đi tàu lâu ngày mà cho ăn món này thì… ác hết biết!

Lan Như ngạc nhiên hỏi:

– Sao lại ác?

Võ Bằng nhăn mặt:

– Khó mà diễn giải.
– Lan Như rất muốn biết.
– Đông y cũng như Tây y đều công nhận thịt nhím chứa nhiều chất dinh dưỡng.

Thấy Võ Bằng ngưng lâu, nàng giục:

– Anh nói tiếp đi. Nhiều dinh dưỡng thì tốt chớ sao lại ác?
– Ác là thế này. Khi chồng ăn thì nhớ vợ, hoặc ngược lại.

Lan Như đập bàn tay vào vai Bằng:

– Quỷ sứ!

Ngay lúc đó, xã trưởng bước tới. Lan Như liền hỏi:

– Thưa anh xã trưởng, từ đâu mà có tên đảo Thổ Châu?
– Theo ông bà nói lại, thời Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ đánh nhau, Nguyễn Ánh yếu thế, bôn tẩu ra đây và đặt tên đảo Thổ Châu có nghĩa là đất quý. Còn cái bãi biển này là nơi ông thường họp bàn thế sự nên đặt là Bãi Ngự.
– Tôi đã biết lý do có tên Hòn Nhạn. Còn Hòn Xanh thì sao?
– Cũng cùng lối đặt tên. Hòn Xanh vì đảo phủ đầy cây xanh, không như các đảo còn lại phần lớn là đá tảng. Nếu cô có thì giờ tôi sẽ đưa cô đi một vòng viếng đảo, xem cột mốc chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa và lên hải đăng ngắm toàn cảnh quần đảo. Từ độ cao 140 thước, cô sẽ ngất ngây với trời mây nước, nhất là tám đảo nhỏ quanh đảo lớn, trông như đàn cá con bên cá kình mẹ. Cuối cùng xuống viếng Bãi Dong, đẹp không thua Bãi Ngự.

Lan Như mơ màng tưởng như đang chụp các phong cảnh tuyệt vời dù tiếng xã trưởng rót đều vào tai:

– Trên đường mòn xuyên rừng, nhiều loại cây lạ, bông lạ khiến say mê quên hết nhọc nhằn. Cô còn được nghe nhiều tiếng chim hòa quyện líu lo. Đó là tất cả lý do tôi không muốn rời bỏ nơi này.

Lan Như nhìn cây bàng cổ thụ cạnh nhà dân gần đó. Cây đồ sộ có dáng hình vuông, rễ thòng tận đất. Cành cong queo như trải qua bao năm tháng nhọc nhằn. Nàng thích quang cảnh ở đây. Hoang dã. Thanh bình. Man mác. Nàng nói:

– Gợi ý của anh hấp dẫn lắm. Để tôi hỏi hạm trưởng…

Nàng bước đến Võ Bằng đang nói chuyện với cố vấn. Anh nghiêng mặt tỏ dấu sẵn sàng nghe Lan Như. Nàng nhỏ nhẹ nói:

– Anh xã trưởng có nhã ý muốn đưa Lan Như viếng hải đăng và mốc chủ quyền. Liệu Lan Như đi được không?

Võ Bằng không trả lời, hỏi lại:

– Cô có biết đảo này còn có tên tiếng Mã Lai ghi trên hải đồ không?

Dù thấy anh vô duyên nhưng nàng vẫn vui vẻ trả lời:

– Thưa anh, không.
– Tên là Poulo Panjang. Poulo là đảo, panjang là dài. Nghĩa là tên được đặt theo hình dạng của đảo.

Anh cười chúm chím khiến nàng đổ quạu:

– Tôi chỉ muốn anh trả lời được hay không thôi.

Võ Bằng nhởn nhơ:

– Chi tiết tôi vừa nêu cũng cần cho bài phóng sự của cô.
– Cám ơn anh.
– Còn chi tiết này là cho riêng cô: đường từ đây đến hải đăng xa 2 cây số, phải leo núi băng rừng. Cô đã từng nếm mùi băng rừng lội suối. Vậy hãy thử tính xem phải cần bao nhiêu thời gian vừa đi vừa về?

Lan Như còn đang ngẩn ngơ thì Võ Bằng lắc đầu, lạnh lùng:

– Rất tiếc là không. Chúng ta sắp về tàu. Không thể bỏ tàu lâu được!

Lan Như ngoe nguẩy bước trở lại bàn ăn, lòng ấm ức. Nàng bốc con mực đưa lên miệng cắn thật mạnh. Mực thơm ngon, ngọt ngào mà sao vẫn thấy đắng ngắt…

(Còn tiếp)

Vũ Thất

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026