Mầm xanh dưới bùn non
Biển Cát
Tí ngồi bó gối bên bậc cửa, đôi mắt đờ đẫn nhìn ra khoảng sân còn xâm xấp nước màu phù sa đục ngầu. Bầu trời vẫn một màu chì xám xịt, thấp lờ đờ như muốn đổ sập xuống những mái nhà văng mảnh ngói. Mưa không còn tầm tã nhưng cứ lắc rắc như bụi muối, lạnh đến sắt se. Mỗi cơn gió luồn qua rặng tre xơ xác lại gào lên một tiếng căm phẫn, khiến cái nóc nhà vừa lợp lại bằng mấy tấm bạt cũ cứ rung lên bần bật.
Tí co vai, thu mình vào trong cái áo khoác sờn rách, đôi môi tím ngắt vì cái lạnh ngấm vào tận xương. Nó không muốn vào nhà. Căn nhà bây giờ ám mùi bùn non và mùi ẩm mốc của những ngày cả gia đình phải co cụm trên xà nhà nhìn con nước hung hãn liếm dần lên chân cột. Nó thèm một chút khí trời, dù cái không khí ấy lúc này chỉ toàn vị chát của sự đổ nát.
Bụng Tí bỗng sôi lên òng ọc. Tô cơm chan nước mì tôm lúc nãy như tan biến đâu mất vào cái bao tử trống rỗng của một đứa trẻ tám tuổi. Mọi năm, giờ này không khí trong nhà phải rộn ràng mùi lá dong luộc, mùi hành muối đậm đà. Ba sẽ tát ao, bùn đất bám đầy mình nhưng tiếng cười vang động cả xóm. Tí khi ấy sẽ chạy lăng xăng, lúc thì ăn vụng miếng đậu xanh ngọt bùi của má, lúc thì xun xoe bưng chậu, bưng rổ cho ba.
Năm nay, lũ đi qua, mang theo cả bầy gà, cả những bao lúa dự trữ và những nụ cười của người lớn. Tí chợt thở dài đánh sượt. Cái âm thanh buồn bã đó sao mà giống tiếng thở dài của ba đêm qua, khi ông đứng lặng nhìn vết bùn đóng váng trên vách nhà – nơi tài sản cả đời tích cóp vừa trôi theo con nước. Có lần thấy con thở dài, má còn cười gượng bảo: “Mới tí tuổi đầu đã biết gì mà thở ngắn than dài hả con?”
Nhưng Tí thấy mình buồn thiệt. Ở xứ này, bây giờ tiếng thở dài dường như còn nhiều hơn cả tiếng gió.
Sáng nay, có đoàn từ thiện về. Họ phát mỗi nhà một bao gạo và một thùng mì gói.
Riêng bọn con nít còn được cô áo hồng phát thêm mỗi đứa một túi kẹo nhỏ đủ màu.
Từ sáng tới giờ, Tí cứ lấy ra lấy vào, hít hà mãi mà chưa dám ăn.
Lần này, ngần ngừ một lúc lâu thiệt lâu, Tí mới bốc ra một viên, không dám nhai, chỉ khẽ đặt lên đầu lưỡi. Vị ngọt lịm lan tỏa, thơm nồng mùi trái cây mà nó chưa bao giờ được nếm. Tí nút hai ngón tay cái, tận hưởng chút dư vị cuối cùng rồi lịm đi trong giấc ngủ ngay bên bậc cửa. Trong mơ, nó không thấy nước lũ, chỉ thấy mình lạc vào một tòa lâu đài làm bằng kẹo cứng, rực rỡ và thơm ngát...
Má
Má bước ra từ góc bếp ẩm thấp, tay còn dính đầy tro than. Thấy dáng nhỏ thỏ của Tí ngồi gục bên cửa, má khựng lại, trái tim thắt lên một nhịp. Má nhẹ tay kéo lại cái vạt áo cho con, nhìn thấy hai ngón tay con vẫn còn ngậm trong miệng, má hiểu ngay: nó lại mơ về một cái Tết đủ đầy rồi.
Bàn tay má gầy guộc, chằng chịt những cứa do dọn dẹp đống đổ nát, run run chạm vào gò má tái mét của con. Má nhìn ra sân. Nước đã rút, nhưng cái nghèo và sự kiệt quệ thì ở lại, đóng thành những lớp váng nhầy nhụa trên đời người. Năm nay, không có lá dong, không có thịt mỡ, cũng chẳng có bộ quần áo mới nào được phơi trên sào. Căn bếp chỉ còn lại vài cân gạo của đoàn cứu trợ và mấy gói mì tôm dùng dở.
Má xót con. Đứa trẻ tám tuổi đáng lẽ phải được háo hức chờ tiếng pháo hoa, giờ lại phải học cách thở dài để tiêu hóa nỗi buồn của người lớn. Má nhìn vào lòng bàn tay mình – bàn tay trắng trơn sau bão – rồi lại nhìn ra cánh đồng chỉ còn gốc rạ mục. Má nhủ thầm: “Cái ăn ngày mai còn chưa biết có hay không, thì nói gì đến Tết với nhất.”
Nhưng rồi, nhìn thấy khuôn mặt con thư thái trong giấc mơ nhờ viên kẹo ngọt, lòng má chợt dấy lên một sự kiên cường đến lạ. Má tự hứa, dù không có giò chả, không có pháo hoa, má cũng sẽ tìm cách gì đó làm vui cho thằng bé — như tìm mớ khoai sót lại dưới lớp bùn để nướng cho nó thơm lừng. Tết của má năm nay không nằm ở mâm cao cỗ đầy, mà nằm ở việc giữ cho cái giấc mơ kẹo ngọt của con không bị cơn lũ của đời thực nhấn chìm.
Má khẽ bế Tí vào trong, đặt con nằm lên tấm phản gỗ còn loang lổ vết nước. Má nhìn chồng mì tôm góc nhà, rồi nhìn lên bàn thờ vắng lặng. Một năm không Tết, nhưng miễn là cả nhà còn ngồi lại bên nhau, còn chia nhau được viên kẹo ngọt giữa ngày mưa, thì đó cũng là một kiểu hồi sinh.
Cha
Cha về khi bóng hoàng hôn tím ngắt đã bắt đầu đổ xuống cánh đồng loang lổ nước. Thân hình cha cao lớn nhưng gầy sọp đi, bộ quần áo cũ bết bát bùn đất, sũng nước mưa. Một tay cha xách chiếc giỏ tre cũ, tay kia giữ chặt miệng giỏ. Bên trong, một con rắn nước đang quẫy đạp nhẹ. Cha đã lặn lội suốt cả buổi chiều trong những bụi rậm ngập nước, mười đầu ngón tay trắng bệch, run rẩy vì lạnh, chỉ để đổi lấy chút chất đạm cho bữa cơm cuối năm.
Đứng trước sân nhà, cha khựng lại.
Dưới ánh sáng mờ ảo của chiều ba mươi, ngôi nhà hiện ra xiêu vẹo, tiêu điều như một kẻ vừa trải qua cơn bạo bệnh. Những tấm bạt che tạm trên mái nhà bị gió thổi phần phật, nghe như tiếng thở hắt ra đầy mệt mỏi của đất đai. Cha nhìn cái cột nhà mà mình từng tự tay đục đẽo, giờ nghiêng lệch hẳn sang một bên, lòng cha thắt lại. Bao nhiêu lo âu về tiền dựng lại nhà, tiền giống cho vụ sau, tiền sách vở cho thằng Tí... bỗng chốc ùa về, đè nặng lên đôi vai vốn đã quá mỏi mệt.
Cha là trụ cột, là người chưa bao giờ để má con Tí thấy mình nao núng, dù là lúc nước lũ dâng lên tận ngực. Nhưng lúc này đây, trước sự hoang tàn đến lạnh lẽo, một giọt nước nóng hổi chợt trào ra từ khóe mắt khắc khổ, lăn dài rồi mất hút vào lớp bùn trên gò má. Lần đầu tiên trong đời, người đàn ông ấy thấy mình bất lực trước thiên nhiên.
Nhưng rồi, ánh mắt cha chợt sững lại ở góc sân, ngay dưới chân đống củi mục còn sũng nước.
Giữa lớp bùn non nhầy nhụa, một vài cọng rau muống oặt oài, dập nát sau bão bỗng vươn lên những chồi non xanh mướt. Những cái mầm nhỏ xíu, mỏng manh nhưng mang một màu xanh ngạo nghễ, bật lên từ chính sự đổ nát. Cha đứng lặng, nhìn chăm chằm vào màu xanh ấy. Một luồng điện nhẹ chạy dọc sống lưng cha.
Cái tiếng thở dài vừa định buông ra khỏi lồng ngực bỗng khựng lại nửa chừng, rồi bị cha nén chặt vào bên trong. Cha đưa tay quệt ngang dòng nước mắt, đôi mắt bỗng rực lên một ý chí can trường. Cây cỏ còn không bỏ cuộc, lẽ nào mình lại đầu hàng? Cây sống được, thì mình chắc chắn sống được.
Cha bước nhanh vào hiên nhà, cất tiếng gọi trầm đục nhưng mạnh mẽ:
“Má nó ơi! Nhóm bếp đi. Tối nay cả nhà mình có cháo rắn ăn Tết rồi!”
Bữa ăn giao thừa
Trong gian bếp tối, ánh lửa củi ướt bắt đầu reo lách tách. Nồi cháo rắn bốc khói nghi ngút, thơm lừng xua đi cái lạnh se sắt. Cha múc một bát đầy, thổi nhè nhẹ rồi đưa cho má.
Cha nhìn sâu vào mắt má, giọng trầm nhưng chắc nịch:
- Giao thừa này nhà mình ăn cháo, nhưng tui hứa với mình, sang năm tui sẽ gầy dựng lại. Mấy cọng rau muống góc sân nó còn nứt mầm được, sức mình tay chân thế này, sợ gì không có mùa sau hả mình?
Má bưng bát cháo, hơi nóng làm nhòe đi đôi mắt đỏ hoe. Má khẽ gật đầu:
- Dạ, tui tin mình. Miễn mình với con bình an là còn tất cả. Nãy thằng Tí nó mơ, mép còn dính kẹo, miệng thì cười toe toét, tui nhìn mà thương. Mai mùng một, tui với mình ra dọn lại mảnh vườn, tui trồng lại mấy gốc hành, mình be lại cái bờ ao nha mình?
Cha nở nụ cười hiếm hoi, bàn tay thô ráp nắm lấy bàn tay nứt nẻ của má:
- Ừ, mai mình với tui bắt đầu lại.
Thằng Tí choàng tỉnh, nghe mùi cháo thơm, nó bật dậy cười rạng rỡ. Ngoài kia, mùa xuân đang âm thầm cựa mình từ những mầm rau muống dưới lớp bùn non, mạnh mẽ và ngạo nghễ.
Biển Cát |