MỘT MẨU CHUYỆN ĐỜI:
NHỮNG KẺ LỆCH TRỤC
Đào Ngọc Phong
1/ NGƯỜI CON
Khuôn viên trường Đại Học Cộng Đồng Santa Ana College, tiểu bang California. Thẩm, giảng viên khoa toán ngồi chờ Thu Hoa trong căn-tin sau buổi giảng. Thời gian qua mau thật, đã mười lăm năm mình vượt biên đến Mỹ, năm năm làm giảng viên môn toán tại đây. Năm nay 1996, chỉ còn một tuần nữa là giỗ đầu của bố, con đã hoàn thành di ngôn của bố, in xong tập nhật ký sau khi bố qua đời. Con vẫn ân hận không hoàn tất khi bố còn sanh tiền, để bố nhìn thấy tác phẩm của mình với ba trăm trang giấy in từ năm trăm trang viết tay trong sáu tập vở học trò; chữ viết của bố tròn đẹp như chữ in. Nhưng con nhớ nằm lòng lời dặn dò cẩn mật của bố không được in ra khi bố còn sống. Dù sao cuốn sách sẽ là lễ vật tinh thần quí giá giữa mâm cơm cúng trên bàn thờ bố. Con tính từ nay con sẽ giỗ bố và mẹ cùng ngày. Mẹ chết năm 1957 khi con mới hai tuổi, mà trong suốt hai mươi lăm năm, bố không bao giờ hé miệng kể cho con nghe về nguyên nhân cái chết của mẹ.
Con nhớ như in một đêm năm 1980, khi bố dẫn con ra bến vượt biên, bố dặn-dò: “Mấy chục năm nay, bố đã giành-dụm đủ tiền bạc cho con đi chuyến này, con phải giữ kỹ để sinh sống khi đến đảo, nhưng quan trọng hơn là gói này, chứa năm trăm trang nhật ký trong sáu tập vở, khi đến nơi, con đọc để biết về cái chết của mẹ và ông bà ngoại; bố chết rồi con mới được in ra”.
Nhờ bằng cấp đại học, con được làm trong ban văn hóa của đảo, lo giấy tờ, thông ngôn, thông dịch, dạy học hơn bốn năm mới được xét vào Mỹ. Trong bốn năm, con đã đọc gần như thuộc lòng cuốn nhật ký của bố, con hiểu tại sao bố đã không nói gì với con về thảm kịch gia đình mình và nhiều gia đình khác trong một khung cảnh lịch sử chung đen tối của cả dân tộc; cũng nhờ đọc nhật ký mà con hiểu rõ những điều con còn mù mờ khi còn trẻ, con mới thấy quyết định của bố cho con ra nước ngoài thật là sáng suốt.
Con không thể tưởng tượng nổi năm nay con đã tứ tuần trải qua bốn giai đọan đời; hai mươi năm 1955-1975 ở miền Bắc, năm năm 1975-1980 ở miền Nam, bốn năm 1980-1984 ở đảo, mười năm 1985-1995 ở Mỹ. Con hình dung một cuộc hành trình từ một hang tối, dần dần tới cửa hang thấy được bầu trời sáng rỡ, bao la. Kỳ vọng của bố về việc học của con, hiện nay con đang tiến tới đích. Năm năm trước khi qua đời, bố đã mừng vui hãnh diện khi con báo tin vừa đậu bằng cao học toán và được nhận làm giảng viên phụ của trường đại học cộng đồng; mới đây con lại được học bổng theo ban tiến sĩ. Chỉ có điều, con chưa lập gia đình để sanh cháu trai nội theo tâm nguyện của bố, nối dõi tông đường, vì trong nhật ký bố kể giòng họ nhà mình bao thế hệ chỉ sanh “độc nam”.
Nhưng bố biết đấy, người yêu của con từ thuở học trò, Uyển Nhung, đến nay vẫn bặt vô âm tín, đã xa nhau hai mươi năm rồi, kể từ 1975 khi nàng theo mẹ vào Sài Gòn tìm bố, vì năm 1954 ông trốn vào Nam để tránh bị chính quyền mới cầm tù, không kịp đem theo vợ con. Mặc dù hai đứa chưa hứa hôn nhưng con không thể lấy ai khác ngoài nàng. Con có nhiều bạn gái xinh đẹp từ nhiều nước, nhưng ai có thể thay thế Uyển Nhung được?
Từ một năm nay con quen Thu Hoa, một giảng viên phân khoa văn chương nhân dự một buổi họp mặt đồng hương dịp tất niên. Cô ấy đã ba mươi rồi vẫn chưa lập gia đình, dịu dàng, chín chắn, tỏ ra muốn được gặp con thường xuyên. Mỗi tuần chúng con gặp nhau ngày chủ nhật đi biển, lên núi, vào rừng; hình như nàng muốn tiến tới một liên hệ thân mật hơn, muốn dẫn con về nhà gặp cha mẹ nàng. Về phần con, con cũng thấy thích được cùng nàng đi chơi, ăn nhà hàng nói chuyện; nhưng mỗi khi nghĩ lấy nàng thì hình ảnh Uyển Nhung lại hiện lên, khiến con không thể nghĩ tiếp. Một lần cách đây hai tháng, hai đứa ngồi ngắm sóng biển lúc rạng đông, tình cờ con mở ví đúng cái ngăn có hình Uyển Nhung mà mấy chục năm nay con vẫn mang theo mình. Không ngờ Thu Hoa liếc thấy cười giòn: “Bạn gái của anh hả?”
Con bối rối một chút, nghĩ cô gái này có bản lãnh; con chầm-chậm kể sơ cho Thu Hoa về liên hệ của con với Uyển Nhung hai mươi năm trước. Nàng bỗng sửng sốt kêu lên: “Có phải chị là Lý Uyển Nhung không, trước 75 ở phố.... Hà Nội? Nếu đúng vậy thì đó là chị họ chú bác ruột của em đấy, em là Lý Thu Hoa”. Đến lượt con cũng kinh ngạc không kém, đưa tấm hình cho nàng xem kỹ, nàng nói: “Đúng là chị của em rồi, ôi sao mà trời đất run rủi cho em gặp anh. Chị của em bây giờ....”.
Giọng cô nghẹn ngào, không nói tiếp được. Tim con thắt lại, hay là nàng đã lấy chồng?
Theo lời kể của Thu Hoa, sau khi bố Uyển Nhung vào Nam, ông mở cửa hàng bán đồ gỗ, vẫn hoạt động chính trị ngầm, không tham gia chính quyền miền Nam mặc dù được mời. Ông nói với cha của Thu Hoa là tổ chức của ông chống mọi thế lực ngoại bang, từ cộng sản đến Pháp, Nhật, Trung Hoa, ngay cả Mỹ, ông không thể tham gia bất cứ chính quyền nào. Cha Thu Hoa nói anh lý tưởng quá, không sát thực tế; ông chỉ cười bảo chú cứ đợi thời gian trả lời, không ngoại bang nào nó thương dân mình đâu.
Ngay sau 30-4-1975, ông đã mật báo cho bác gái và chị Uyển Nhung chuẩn bị vào Nam, ông đã sắp xếp mọi việc. Quả nhiên, vào tháng năm 1975 khi gia đình đoàn tụ, thì thuyền bè đã sẵn sàng cho gia đình bác và gia đình Thu Hoa vượt biên êm thắm. Nhưng một tai nạn xảy ra khi chị Uyển Nhung té xuông nước va vào một tảng đá ngầm khiến cho chân chị bị gãy. Khi đến Mỹ định cư tại Boston, mặc dù bác trai bỏ rất nhiều tiền chữa trị nhưng chân của chị đã thành tật, phải ngồi xe lăn. Nhưng chị can đảm lắm, vẫn ghi danh học đại học ngành kế toán; chị mở văn phòng kế toán sinh sống sung túc nuôi hai bác đã già, chị không lập gia đình. Chị không bao giờ kể cho em nghe về anh.
Con gục đầu trên gối nước mắt đầm đìa. Phải chi mười năm trước gặp Thu Hoa thì mình đã tìm đến săn sóc cho nàng rồi; còn bây giờ, khồng biết tâm tình nàng thế nào. Kỷ niệm thời gian hai đứa ở đại học xá Hà Nội ùa về, từ 1973 đến 1975, chiều nào hai đứa cũng gặp nhau bách bộ trong sân chuyện trò không dứt; biết là yêu nhau nhưng chưa bao giờ nói, suốt từ thời lớp mười. Hai đứa biết rõ gia thế của nhau. Ông nội Uyển Nhung có căn nhà gạch ba tầng, tầng dưới mở của hàng đồ gỗ gia dụng; khi chính quyền mới tiếp quản Hà Nội, cụ bị ghép vào thành phần tư sản mại bản, mất nhà, cả gia đình phải ở chui rúc trong căn nhà gỗ cuối vườn; bố Uyển Nhung tốt nghiệp kỹ sư cơ khí từ Pháp về hoạt động chính trị trong một đảng cách mạng chống cả cộng sản, Pháp và Nhật, nên trước khi Hà Nội đổi chủ, ông phải trốn vào Nam theo tổ chức. Ông nội mất, hai mẹ con Uyển Nhung buôn bán vặt-vãnh sống qua ngày. Hai mẹ con không đuọc cấp hộ khẩu nên không có tem phiếu mua hàng mậu dịch, sinh kế vô cùng vất vả. Đáng lẽ nàng không được lên đại học vì có cha trốn vào Nam, nhưng may có một ông chú làm lớn trong chính quyền mới bảo lãnh nên nàng được vào đại học xá. Theo bố kể, trong xã hội cộng sản, những người bị kết án phản cách mạng đều bị gạt ra ngoài rìa xã hội không được hưởng bất cứ quyền lợi nào trong một chế độ bao cấp toàn trị.Họ giống như thành phần Dalit trong xã hội Ấn Độ, chỉ làm những việc hạ tiện như gánh phân quét cầu tiêu, bị xã hội khinh rẻ gần như súc vật, bị đánh đập không thưa kiện, không đuọc phép vào nhà thờ, con cái đi học phải ngồi cuối lớp, khi ăn phải ngồi riêng một nơi.
Bố kể những nạn nhân của hai vụ cải cách ruộng đất năm 1953 và Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956 đều bị gạt ra ngoài rìa xã hội mà những thân nhân bằng hữu xưa kia không ai dám giao thiệp, không dám đến chơi nhà, gặp ngoài phố chỉ ngó lơ, đời sống vật chất thiếu thốn cùng cực. Xét về mặt xã hội, họ coi như đã chết.
Bố so sánh cơ cấu xã hội cộng sản với xã hội Trung Hoa thời nhà Nguyên Mông cai trị ( 1277-1377). Họ chia xã hội thành mười giai cấp mà đứng đầu làm quan trong triều chỉ là người Mông Cổ, còn NHO SĨ và ĂN MÀY ở cuối bảng số 9 và số 10, sau cả con hát và những hạng người đáng khinh khác đứng số 8. Họ sợ nho sĩ vì là trí thức dễ bất mãn hay phê bình lãnh đạo, có ảnh hưởng đến quần chúng nên đẩy ra ngoài ria xã hội. Bố nhận xét, cách mạng vô sản như vậy chỉ là lập lại một trật tự hủ bại, làm sao gọi là cách mạng đích thực được?
Khi sống ở Mỹ có thời gian và cơ hội chàng đã vào thư viện tìm đọc nhiều về lịch sử, mới hiểu rõ những điều bố viết, nhất là hiểu tại sao bố dặn dò kỹ chỉ được in nhật ký sau khi bố chêt.
Uyển Nhung biết rõ bố chàng là thợ in trong một nhà xuât bản lớn ở Hà Nội trước 54. Sau 54 ông vẫn tiếp tục nghề cũ; vì là thành phần công nhân nên được hưởng chế độ hộ khẩu và mậu dịch bao cấp. Cả chàng và nàng đều chỉ biết ông là một thợ in giỏi kinh nghiệm lâu năm, nhưng mãi sau này khi vượt biển đến đảo, đọc nhât ký của bố, chàng mới kinh ngạc biết ông đã đậu tú tài Pháp, hèn chi ông viết nhật ký như một nhà văn, một học giả uyên bác, chữ viết tay của ông thật là đẹp, chứng tỏ một tâm trí hết sức quân bình.
Đại học xá có một đảng ủy mà bí thư chi bộ tên Phiên, một thanh niên hơn chàng mười tuổi, tức là anh ta sinh năm 1945. Vốn là con một tá điền ở một làng nhỏ, học đến lớp chín thì không học chữ được mà quay qua học nghề thợ máy, được kết nạp vào đảng như thành phần cốt cán của chế độ mới, được qua Nga Xô, Trung Cộng huấn luyện, khi về nước năm hai lăm tuổi được bổ nhiệm bí thư đảng ủy học xá đầy uy quyền. Hắn ta rõ ràng thuộc giai cấp thượng lưu mới, giống như quan huyện quan phủ thời quân chủ phong kiến; hoặc như ông tham ông phán thời thực dân Pháp. Quần áo giày đồng hồ mắt kính của hắn hầu như không phải hàng mậu dich quốc doanh. Không bao giờ hắn phải xếp hàng trước cửa hàng mậu dịch để chờ chia ba cái quần cho bốn người.
Đó là chàng đọc được trong nhật ký của bố, chứ làm sao chàng biết thế nào là ông thông ông phán. Chàng còn nhớ hồi đó, trong xã hội miền Bắc có ca dao thời đại “Phi cán bộ bất thành phu phụ”; các thiếu nữ mơ được lấy chồng cân bộ, vừa có danh vừa có lợi vừa có quyền. Bố kể ngày xưa ở bên Tàu thời nhà Minh thế kỷ mười lăm mười sáu mười bảy, tầng lớp hoạn quan vừa có quyền thế trùm lấp, vừa giàu có đã là một lý tưởng cho dân chúng, đến độ trong dân gian nhiều gia đình cho con trai chịu thiến để được vào cung làm họan quan hưởng phú quí, không cần học hành sôi kinh nấu sử. Bố dẫn tích truyện này ngụ ý kẻ nào lên được giai cấp cán bộ thì phải thiến hoạn một phần nhân cách.
Trong học xá đã có tiếng đồn rầm-rì là tên Phiên thường cho gọi nữ sinh viên vào phòng riêng làm việc, cửa đóng kín, lấy danh nghĩa chỉnh huấn về lập trường giai cấp vô sản trong hôn nhân. Người ta thấy hắn có những cử chỉ sỗ-sàng với nữ sinh viên ngay giữa công chúng. Thẩm lo Uyển Nhung có thể là một đối tượng của hắn, nên mỗi buổi chiều cùng nhau bách bộ, chàng kín đáo nhắc nhở nàng đề phòng; nàng nói: “Mấy đứa bị gọi làm việc riêng đều im thin-thít; nó mà đụng đến em thì nó tới số”. Chàng yên tâm, một phần vì cá tính nàng cương cường, một phần nàng dựa vào ông chú làm lớn.
Trong học xá, mỗi lời ăn tiếng nói, mỗi giao tiếp xã hội đều có thể bị “con mắt nhân dân” lôi ra phê bình trong buổi họp kiểm thảo tiểu tổ hằng đêm. Mất lập trường giai cấp là một tội lớn trong nhiều tội danh khác; các anh là quần chúng chỉ đuọc quyền phê bình lẫn nhau, không được quyền phê bình lãnh đạo.
Thẩm đã hoài nghi về châm ngôn này, nhưng theo lời bố dặn dò liên tục hàng ngày, con phải giữ mình hêt sức trầm tĩnh không nóng giận trước điều trái tai gai mắt. Vào dịp Tết Nguyên Đán 1974, đảng ủy phát động phong trào làm báo tường, khuyến khich nói thực viết thực. Bố biết việc, dặn chàng không đuọc viết lách gì.
Trong vòng nửa tháng đã có tới mười tờ bích báo dán khắp tường. Sinh viên châu đầu đọc và đọc, nhưng ngày thứ ba thì có lệnh tịch thu hết; không khí học xá bỗng chìm vào một cảnh im lặng đáng sợ. Bình thường miệng ai cũng ngậm một nửa, nhưng bây giờ ai cũng mím chặt. Một quyền lực vô hình khủng bố giăng khắp học xá.
Theo lời bố dặn, chàng đã cố đọc hết mọi bài trong ba ngày, về tường thuật lại; bố nói vậy là sắp có biến rồi. Quả nhiên, tuần sau toàn thể sinh viên có lệnh họp tại hội trường lớn, dưới sự chủ tọa của đảng ủy nhằm kiểm thảo chỉnh huấn quan điểm và lập trường của quần chùng đang đi sai lạc trầm trọng, và những kẻ có tư tưởng phản động sẽ có biện pháp xử lý đích đáng.
Cuộc họp có không khí của một phiên tòa. Một số sinh viên cò mồi lần lượt lên diễn đàn vạch tội những cây viết “nặng ký nhất”. Đầu tiên, Luân, sinh viên ban triết với bài “Đảng và Nhân Dân, ai chịu ơn ai?” trong đó anh nhấn mạnh đảng phải chịu ơn nhân dân nhiều hơn vì anh hiểu nhân dân là dân tộc, vì không có dân tộc thì không thể nào có đảng, cũng như không có mẹ làm sao có con. Theo anh, không thể lấy cách mạng giai cấp làm lý tưởng mà phải lấy cách mạng dân tộc làm lý tưởng; lòng yêu nước là tình cảm tự phát không cần ai dạy, tức là không thể có cái gọi là chủ nghĩa yêu nước; cũng như không thể có cái gọi là chủ nghĩa xã hội khoa học, vì khoa học làm gì có chủ nghĩa. Không thể nói chủ nghĩa Newton, chủ nghĩa Einstein..
Kế đó, Tốn sinh viên ban luật với bài phê bình những tòa án nhân dân với quan tòa, công tố, luật sư, nhân chứng không tôn trọng nguyên tắc luật pháp quốc tế và tính nhân đạo phổ biến.
Tòa án nhân dân là biểu tượng của một tâm thức bịnh hoạn sợ đối thoại, chỉ biết dùng dùng bạo lực để kết án một chiều.
Tiếp theo, Thuần, sinh viên ban mỹ thuật với bức họa nhan đề “Mậu dịch, dịch hạch—Hộ khẩu, hậu khổ” vẽ ba con trâu, lừa, ngựa gầy trơ xương bị xích chân, đứng bên máng chờ đợi chủ trại béo phì ném từng tí cỏ.
Bị cáo chót là Thiều, sinh viên ban Văn với bài thơ chế nhạo lãnh đạo văn nghệ không ca tụng anh hùng dân tộc mà ca tụng bạo chúa ngoại bang ; Thiều vốn được anh em tặng cho biệt danh “thi sĩ điên”.
Sau đó vài ngày, bốn chàng “nổi loạn” bị bắt vào trại lao động cải tạo vô thời hạn nơi rừng sâu. Mười năm sau họ được tha thì đã thân tàn ma dại; họ bị cải tạo thành phế nhân. Riêng Luân đã chết trong tù, có lẽ bị ghép tội nặng nhất.
Còn những cây viết nhẹ ký thì bị đuổi khỏi học xá. Gia đình các bị cáo đều bị vạ lây, hoặc bị cắt hộ khẩu, hoặc bị đuổi việc, đuổi học. Họ trở thành những Dalits.
Không khí học xá càng lúc càng trở nên u-ám, hầu như ai cũng nen-nét lo sợ chỉ một câu nói vu-vơ cũng có thể vào tù. Chàng cảm thấy rõ một trục máy khổng lồ vô hình đang quay với muôn ngàn lưỡi dao nhọn hoắt sẵn sàng phanh thây mọi kẻ lệch trục; cái trục máy thật dài, dài qua biên giới qua tận Bắc Kinh, Moscow. Chàng lo cho Uyển Nhung với lý lịch gia đình. Một số sinh viên bỗng nhiên có lệnh gọi nhập ngũ đi B bổ sung cho chiến trường miền Nam. Đúng là đang có chiến dịch thanh lọc. Chàng hình dung học xá bây giờ giống như một trại gồm những sinh vật không phải người cũng không phải thú, rình mò nhau với những ánh mắt mờ đục.
Trong nhật ký, bố so sánh thời này với thời Pháp thuộc từ những năm 1860 khi những phong trào chống Pháp bị ruồng bố, tù Hỏa Lò, Côn Đảo, đày đi những xứ xa xôi; vua Hàm Nghi ở nước Algerie bên châu Phi, vua Thành Thái và Duy Tân ở đảo Reunion giữa Ấn Độ Dương, các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng ở đảo Guyana thuộc Pháp tận bên Nam Mỹ gần nước Brazil. Khi so sánh như vậy bố ngụ ý thực dân hay cộng sản đều là những thế lực ngoại bang tàn bạo như nhau. Chàng rùng mình, nghĩ nếu cuốn nhật ký lọt ra ngoài thì bố ắt bị giết hay tù vô thời hạn, còn chàng sẽ trở thành một Dalit.
Bản thân chàng, một tháng sau biến động, nhận được lệnh lên biên giới Việt Trung làm giáo viên toán cho một trường trung học mới thành lập. Chàng chỉ kịp viết một mảnh tin ngắn nhờ một bạn trao lại cho Uyển Nhung, vì phải đi ngay sáng hôm sau.
Đang nghĩ ngợi lan man thì có tiếng Thu Hoa reo lên: “Xin lỗi làm anh đợi lâu, vì em kẹt họp với khoa một tí”. “Hôm nay anh mời em dùng trưa nhá”. “Hôm trước anh đã đãi em rồi, hôm nay đến lượt em chứ, anh cứ ngồi, em đi lấy đồ ăn”.
Thu Hoa nhanh nhẹn đi đến quầy hàng. Chàng nhìn theo thân hình thon-thả trong chiếc áo dài màu vàng mơ, thầm nghĩ “ Nàng nhanh nhẹn mà dịu dàng, dậy học trường Mỹ mà mặc áo dài quê hương, khuôn mặt nàng quả hơi giống Uyển Nhung”.
Ngồi bên nàng, chàng cảm thấy tâm trí lắng xuống nhẹ nhàng, giải mây đen ký ức mấy chục năm trước tan đi nhanh chóng. Nàng nói: “Tuần rồi em bay qua Boston gặp chị Uyển Nhung”. Cổ họng chàng như nghẹn lại, “Em kể cho chị nghe hết chuyện của anh, chị rũ người xuống, chưa bao giờ chị xúc động đến như thế. Hai bác khuyên tạm đóng cửa văn phòng một tuần, em phải ở bên chị suốt ngày đêm. Nhưng chị vốn tính cương cường, chỉ hai ngày sau chị tỉnh trí lại, cùng em đi mua sắm, ăn tiệm như thường. Chị gởi cho anh một búc thư ngắn, lại gởi tiền nhờ em mua tặng anh mấy bộ quần áo”.
“Mạn phép Thu Hoa nhé, anh xem thư của chị bây giờ được không?” “ Ô, là thư của chị gởi anh mà!”.
“Anh yêu
“Em không bao giờ tưởng tượng chúng mình lại gặp nhau nơi đẩt khách sau hơn hai mươi năm.Anh và Thu Hoa cố sắp xếp công việc bay qua với em càng sớm càng tốt nhá. Uyển Nhung”.
2/ NGƯỜI BỐ
Đầu năm 1995 tôi cảm nhận rõ sức khỏe đã suy giảm, tôi tự biết sẽ chẳng còn sống bao lâu, nên cố gắng viết những trang cuối cùng của đời mình để lại cho đứa con trai duy nhất, Thẩm, viên ngọc quý của vợ tôi tặng cho tôi, dặn dò tha thiết anh phải lo cho con thoát khỏi cảnh địa ngục trần gian. Tôi đã ngày đêm săn sóc nàng như cố níu kéo nàng khỏi bàn tay tử thần. Nhưng nàng vốn mỏng manh, lại qua một thảm kịch khủng khiếp nên qua đời ở tuổi ba mươi khi con trai chúng tôi mới được hai tuổi. Bốn mươi năm gà trống nuôi con, không bao giờ tôi nghĩ đến việc tục huyền; đúng là không một phụ nữ nào khác thay thế được nàng; cho tới bây giờ tôi đã thực hiện được lời hứa với nàng, đưa đứa con trai duy nhất ra khỏi bóng tối, nó đang trên đường đạt đến đích của học vấn. Tôi cảm thấy đã trút được gánh nặng tưởng như không bao giờ quăng được “ Anh sẽ không xấu hổ khi gặp em ở thế giới bên kia”.
Gia đinh vợ tôi thuộc tẩng lớp trung lưu nhiều đời, có của hương hỏa vườn ruộng ở quê; ông bà mở cửa hàng vải ở ngoại thành Hà Nội, chỉ có mình vợ tôi là gái ở nhà, tên Bich Hồng, sinh năm 1927 kém tôi bốn tuổi; còn người anh trai bằng tuổi tôi lên Hà Nội trọ học. Khu nhà của ông bà rộng rãi khang trang. Gia đinh tôi thuộc tầng lớp lao động sống trong một căn nhà nhỏ bên cạnh coi như hàng xóm; mẹ tôi có sạp tạp hóa ngoài chợ; bố có nghề thợ mộc, làm những đồ mộc gia dụng, hoặc đi làm nhà, sửa nhà quanh huyện. Tôi thuộc loại học trò giỏi trong huyện, cùng học một trường với Bích Hồng. Cha mẹ nàng thường gọi tôi qua nhà kèm học cho nàng.
Ông nội của cháu Thẩm hình như không muốn tôi đi cao hơn về việc học chữ,mà huấn luyện tôi thành thợ mộc giỏi; ông thuờng nói con học chữ giỏi cùng lắm làm ông thầy đồ, hay chân thư ký ở dưới quyền nhiều người, còn con có nghề chuyên môn sống độc lập không lệ thuộc ai; muốn mở mang kiến thức thì cứ đọc sách báo cho nhiều, kinh nghiệm đời nhiều, không cần bằng cấp.
Ông nội sinh năm 1900, thuộc lớp giao thời giữa văn hóa chữ Nho và chữ Quốc ngữ mà đã có tinh thần tự do phóng khoáng như thế.Năm 1930, sau biến cố Yên Bái mười tháng hai, tôi mới có bảy tuổi, Bich Hồng ba tuổi, ông cụ đã không bao giờ về nhà nữa, mẹ chỉ lặng-lẽ khóc thầm trong đêm. Khi tôi học xong trung học vào năm 1943 mẹ tôi mới kể chuyện cụ tham gia cuộc khởi nghĩa Yên Bái và mất tích từ đó, mẹ tần-tảo nuôi con rồi qua đời trong mỏi-mòn. Lúc hấp hối bà thều -thào: “Thắng con à, mẹ mất rồi con phải đi tìm bố nhá, bố chưa chết đâu, con phải lấy một người vợ tốt để nối dõi tông đường theo ước nguyện của bố”.
Tôi may mắn xin được làm thợ in trong môt nhà in lớn, sung sướng được đọc bao nhiêu sách báo đủ mọi ngành, nhớ lời bố dặn phải mở mang kiến thức để nhìn đời cho rõ mà giữ mạng sống. Tôi nhớ như in ông cụ nói mạng sống con người quý lắm, không phải là thứ cỏ rác để người khác giẵm lên hay thảy vào lò lửa, nhất là giòng họ nhà ta hiếm nam nhân. Quả thật là ông cụ đã tiêm nhiễm vào trí óc tôi tư tưởng tự do, luôn đặt dấu hỏi về những gì nghe thấy.
Năm 1945-1946, Bích Hồng đã mười tám tuổi vào thời buổi nhiễu nhương, nạn đói, nạn Pháp, nạn Nhật, nạn Việt Minh, nạn Tàu phù quấy đảo rối beng xã hội. Cuối năm 1946, khi quân Pháp quay trở lại, thì Hà Nội tan tác. Tôi theo nhà in vào khu kháng chiến; gia đình Bích Hồng chạy loạn đâu đó, hình như là về quê, chỉ biết là anh trai đã đi bộ đội Việt Minh. Trước khi rời thành, tôi ghé về nhà bố mẹ, nhìn thấy nhà Bích Hồng hoang vắng, lần đầu tiên trong đời tôi mới cảm thấy một tình cảm buồn nhớ cô học trò mảnh mai xinh xắn ngày nào, bây giờ nàng phải lao vào chốn bụi đời, vất vả.
Thời gian qua đi với bom đạn rải đầy đất nước, bảy năm từ 1946 đến 1953 biết bao nhiêu biến động, qua nghề in tôi đã đọc rất nhiều, đủ thứ chữ nghĩa từ mọi thành phần về mọi đề tài. Có những bài viết ngây ngô của những con vẹt nhai lại những sản phẩm ngoại lai, có những câu văn là máu huyết của cả dân tộc nhỉ ra, tôi thấy rõ mình phải có tư tưởng riêng để cứu lấy con mình nếu tôi còn sống sót để lập gia đình; tôi tưởng nhớ đến Bích Hồng, cảm thấy yêu nàng vô cùng.
Năm 1953 trôi đi trong oán thù, oán hận, với những tội ác của chiến dịch cải cách ruộng đất. Một ngày tôi đi công tác mua giấy in, qua một phố huyện. Chợ huyện lèo-tèo buồn hiu, vài cái sạp bày bán rổ chanh èo-uột, vài quả đu-đủ quắt-queo, tôi bỗng thấy một phụ nữ gầy-gò gánh một gánh củi từ mặt đường vào chợ; gánh củi trông khá nặng, bỗng cô ấy vấp chân ngã sập xuống, tôi vội buông xe chạy lại đỡ. Vừa đứng dậy được, người phụ nữ nhìn tôi kêu lên: “ Ôi có phải anh Thắng không, em Bích Hồng”.
Ô, Bích Hồng của tôi đây ư? Tóc bù-xù, mặt đen xạm, hai má gầy nhô cao, đôi vai khẳng khiu, chỉ còn đôi mắt vẫn đen nhánh chiếu ánh sáng đầy nghị lực. Tôi ôm chặt nàng tưởng như vửa vớt được viên ngọc quý từ ống cống lên; nàng nức-nở trong vòng tay tôi.
Hóa ra trong một đợt cải cách, cha mẹ nàng bị qui vào thành phần địa chủ, bị làm nhục đến chết mặc dù anh trai nàng đã làm đến đại tá quân đội nhân dân cũng không dám cứu; còn nàng sau đó bị gạt ra ngoài rìa xã hội, hàng ngày vào rừng kiếm củi sinh nhai.
Chúng tôi tự làm lễ cưới trước bàn thờ cha mẹ hai bên. Tôi nuôi nàng cả năm trời mới lấy lại nhan sắc xinh đẹp xưa kia, mặc cho cái xã hội đạo đức giả chung quanh kiêu căng dè bỉu vì tôi che chở cho con địa chủ. Tôi bị hạ tầng công tác, nhưng vì tay nghề tôi giỏi nên không bị sa thải; tôi chẳng cần, dùng nghề thợ mộc của cha truyền lại đủ sống sung túc cho hai vợ chồng.
Con tạ ơn bố đã dạy con tự lập, cần gì cái tem phiếu mậu dịch bủn xỉn. Tôi không để Bích Hồng mó tay vào lao động, nàng đã bị vùi dập quá đủ. Chúng tôi sồng hạnh phúc bên nhau, năm 1955 nàng hạ sinh con trai, Thẩm, khỏe mạnh hồng hào khiến cho vợ tôi lấy lại được niềm tin vào cuộc sống. Rồi nhờ có phong trào Nhân Văn Giai Phẩm làm thức tỉnh những đầu ốc hôn mê, phải nhận đã phạm hành động sai lầm, phục hồi cho những nạn nhân oan khuất, Bích Hồng lấy lại căn nhà cũ ở ngoại thành thờ cúng cha mẹ tổ tiên như xưa. Nhưng nàng chỉ hưởng hạnh phúc đuọc ít lâu thì bị bạo bệnh mất khi cháu Thẩm mới được hai tuổi. Trước khi lâm chung nàng nói muốn được nắm tay hai cha con: “Anh yêu của em, hứa với em, cố đưa con của chúng ta ra khỏi địa nguc trần gian này nhá”.
Tôi đã làm tròn lời hứa với nàng, tôi sẽ ra đi tìm lại nàng, vì tôi thấy chúng tôi chưa sống đủ hạnh phúc bên nhau, con chúng tôi đã muôn phần sung sướng hơn cha mẹ nó. Tôi được phục hồi mức lương cũ, tạm nghỉ làm mộc để có nhiều thời giờ dạy dỗ con trai. Theo gia phả của gia đình truyền lại, tôi viết bằng quốc ngữ tiểu sử tất cả những anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, mỗi vị ít nhất dài hai trang giấy và bắt con học thuộc từng vị, tôi kiểm bài hàng tuần. Chẳng hạn bất ngờ hỏi con về tiểu sử Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương, Ngô Quyền, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thái Học....Khi con lên lớp 10, trí óc khá trưởng thành, tôi cho nó một đề tài cần suy nghĩ nhiều năm: “Các cuộc kháng chiến của tiền nhân chỉ dựa vào sức riêng của dân tộc không cần nhờ ngoại bang mới đáng gọi là cách mạng đích thực; còn nếu nhờ ngoại bang mà thành công thì sẽ bị ngoại bang chi phối, trở thành lệ thuộc nó, đâu còn gọi là độc lập?”.
Câu trả lời là của riêng con, bố không áp đặt suy nghĩ của riêng bố. Tôi chỉ dạy con nên luôn đặt dấu hỏi về những điều mà người ta tuyên dương là sự thật. Bởi vì thời nay cái được gọi là sự thật chẳng phải sự thật. Bố mãn nguyện khi con báo cho bố biết con đã đọc thuộc lòng cuốn nhật ký nhưng chỉ in ra sau khi bố qua đời. Con đừng về đưa tang bố, vì các cô chú và bằng hữu của bố sẽ lo hết, chỉ còn là một hũ tro thôi con à. Tâm huyết của bố nằm hết trong cuốn nhật ký rồi.
Tuy nhiên còn một điều suýt nữa bố quên làm sáng tỏ. Đó là vụ biến động bích báo trong học xá năm 1974. Khi con vào học xá, bố theo dõi rất kỹ, e rằng con sa sẩy trong cái bẫy thiên la địa võng ấy. Bố xem vụ đó như một vụ Nhân Văn Giai Phẩm lần thứ hai, không do những thành phần của chế độ cũ khởi xướng mà hoàn toàn do thanh niên trưởng thành trong chế độ mới phản tỉnh mà nổi lên. Bố đoán ngay sẽ có chiến dịch thanh lọc, mà con có thể là một trong nhiều đối tượng khác, nên bí mật chạy thân hữu của bố ở cấp cao điều con đi dạy ở biên giới, tránh phải nhập ngũ đi B đang sôi động, vì bố phải bảo vệ con là nam nhân độc nhât của giòng họ. Bố cũng âm thầm cho người bảo vệ bạn gái của con, Uyển Nhung cho đến khi cô ấy vào Nam đoàn tụ gia đình. Bố biêt cô ấy cùng gia đình đã định cư tại Mỹ rồi, con cố tìm gặp. Cô ấy xứng đáng là vợ con.
Sau biến cố 30 tháng 4, bí thư chi bộ Phiên đến nhà dò hỏi bố về tông tích con và Uyển Nhung. Bố đã vắn tắt trả lời anh ta: “Chúng nó đã trưởng thành tự quyết định đời mình, tôi không có trách nhiệm gì về chúng”.
3/ NGƯỜI LẠ
Tôi đang nằm trong xà-lim tối tăm, hôi hám, chật-chội như trong một quan tài, bụng đói liên miên. Thời vàng son của tôi đã qua, hẳn là không bao giờ tìm lại được. Tôi nhớ những năm tháng sung sướng du học bên Nga, bên Trung Hoa, về nước được bổ nhiệm ngay bí thư chi bộ đại học xá, quyền cao chức trọng. Không sao tưởng tượng nổi, tôi vốn là con một tá điền nghèo hèn lại trở thành một ông quan lớn. Tôi chỉ học tới lớp chín, nhưng lại ngồi trên bao người có trình độ đại học. Tôi nhớ lại thời ở học xá, biết bao nàng sinh viên xinh đẹp muốn được tôi để ý đến, chỉ vì cái địa vị cán bộ cao cấp, nhưng chẳng hiểu sao lòng tôi chỉ say mê một người mà tôi không dám tỏ lộ cho bất kỳ ai, bởi vì chỉ cần một người biết là tôi sẽ văng cái chức bí thư chi bộ ngay. Bao nhiêu địch thủ của tôi sẵn sàng chờ dịp để hất văng tôi khỏi học xá.
Nằm đây suy nghĩ mới vỡ lẽ ra, chính cái say mê đó đã đưa tôi đến cảnh tù đày này.
Người nữ sinh viên ấy đã hớp hồn tôi ngay từ ngày đầu bước vào học xá; tôi đã xem hồ sơ của nàng, tên Lý Uyển Nhung, có cha hoạt động chính trị chống đảng trốn vào Nam năm 1954. Tâm trí tôi đã được trui rèn lập trường giai cấp vô sản vững mạnh qua bao trường lớp, nhưng tôi không chống nổi sức hấp dẫn của nàng, kẻ thuộc thành phần phản động. Vì thế tôi sợ, tôi phải đóng kịch, tôi phải đeo mặt nạ cán bộ gương mẫu; tôi thấy rõ cái vai kịch giả dối tôi phải đóng hàng ngày trên sân khấu xã hội; chỉ khi một mình trong căn hộ, tôi mới sống thực với bản ngã, để cho hồn tôi ngập tràn hình ảnh Uyển Nhung.
Lòng say mê ấy càng tăng lên khi mỗi chiều thấy nàng và anh chàng Thẩm sánh đôi quanh sân chuyện trò thân thiết. Anh chàng này là sinh viên toán giỏi nổi tiếng, lại thuộc giai cấp công nhân ưu tú vì bố là thợ in hạng nhất, tôi làm sao đấu nổi. Tôi còn sợ một yếu tố khác, vì Uyển Nhung có chú là một đảng viên cao cấp bảo lãnh. Đã bao đêm trằn trọc tôi tự hỏi, cái lập trường giai cấp có phải là chân lý không cho đời một con người? Uyển Nhung có tội gì đâu, mà ngay cả bố nàng có phạm tội ác gì chống nhân loại, chỉ là khác về chính kiến thôi. Nguy hiểm, tôi có ý nghĩ lạc lập trường rồi, coi chừng giữa quần chúng mà buột miệng nói ra thì bị chộp ngay.
Tôi biết rõ trong đảng bộ có kẻ sẵn sàng hất tôi đi. Một kẻ lệch trục sẽ bị giẵm nát như con giun dưới gót giày đinh.
Hình ảnh Uyển Nhung càng ngày càng xâm chiếm hết hồn tôi, khiến nảy sinh trong tôi lòng ghen tức với anh chàng Thẩm. Như người ta nói, hắn là tình địch, tôi phải loại bỏ hắn. Tôi tra cứu lý lịch hắn, tìm ra một vết đen, đó là việc bố hắn dám thách thức đảng mà lấy con địa chủ.
Mặc dù bố hắn được phục hồi sau chính sách sửa sai, nhưng xem ra hắn vẫn hận vì mẹ hắn bị vùi dập khốn khổ, bị gạt ra ngoài rìa xã hội, chịu bao nhiêu nhuc nhã. Bất mãn, đúng, hắn bất mãn với chế độ, vì không tích cực phấn đấu thành đảng viên; có công tác gì về đoàn về đảng thì hắn khéo léo né tránh, viện cớ phải học nhiều chuẩn bị cho kỳ thi toán cấp quốc gia. Mà ngay cả bố hắn cũng thế, là công nhân ưu tú, nhiều lần được đề cử vào đảng mà cứ lấp-lửng.
Cơ hội đến. Lệnh trên bí mật báo đảng bộ phải cảnh giác những phần tử đi lệch hướng trong tình hình chính trị đang xoay chiều; hãy giăng một cái bẫy để thanh lọc. Thế là tôi họp chi bộ phát động làm báo tường khuyến khích mọi sinh viên nói thực viết thực. Tôi trông chờ anh chàng Thẩm viết để lọt vào bẫy. Mặc dù hắn không viết gì, không bị ghép vào thành phần phản động cấp một như bốn tên Luân, Tốn, Thuần, Thiều, nhưng trong danh sách cấp hai nhẹ ký, tôi cho tên hắn vào với lý do thái độ tiêu cực, bất mãn chế độ, phải cho đi B trải nghiệm thực tế chiến trường, vì đi B thì khó sống trở về.
Ai ngờ, hắn lại nhận được lệnh lên biên giới bổ sung giáo viên toán cho trường trung học cơ sở mới thành lập. Đến lượt tôi lại sợ hắn; vậy là hắn phải có “RỄ” lớn lắm, tôi không dám đụng tới Uyển Nhung.
Sau biến cố 30 tháng 4, Uyển Nhung và một số sinh viên biến khỏi học xá. Ngay cả anh chàng Thẩm, từ ngày lên biên giới dạy học cũng không thấy trở về Hà nội. Càng ngày tôi càng cảm thấy trong tôi như có trận động đất, sự xung khắc càng ngày càng mạnh giữa lập trường cách mạng vô sản và tình mê đối với Uyển Nhung. Tôi xa lạ với chính tôi, cái con rối nước bị giật dây bởi những phù thủy ẩn sau bức rèm. Cái gì cũng “Lệnh Trên”, tôi chẳng phải là tôi.
Tôi xin thuyên chuyển vào Nam quyết tâm tìm nàng; càng tiếp xúc với đủ hạng người trong xã hội miền Nam, tôi càng thấy bị thúc đẩy phải dứt hẳn ra khỏi cái trục đã buộc chặt tôi suốt ba chục năm cuộc đời. Tôi nhận rõ lỗi lầm to lớn của tôi khi đẩy các sinh viên Luân, Tốn, Thuần, Thiều và bao anh chị khác vào tù tội khắc nghiệt. Những ý tưởng của câc anh chị ấy thật là đúng, bây giờ hối hận thì quá muộn, vì anh Luân dã chết trong tù, các anh khác đã thành phế nhân, chưa kể bao nhiêu người liên hệ chiu đau khổ.
Sau một thời gian dò hỏi tìm kiếm, tôi biết tin gia đình nàng đã qua Mỹ ngay trong tháng năm. Tôi quyết định rời bỏ quá khứ tội lỗi, tìm đường vượt biên. Tôi đã trở thành kẻ lệch trục muộn màng.
Ba lần thất bại, lần thứ tư tôi bị bắt. Vì từng là bí thư đảng ủy, tôi biết tôi sẽ bị tử hinh, nên trong các lần hỏi cung tôi nói hết những suy nghĩ của tôi cho họ, giống như một cáo trạng.
Họ yêu cầu tôi viết ra hết những tâm tư uẩn khúc đưa đến hành động bỏ đảng. Tôi miệt mài viết trang này qua trang khác mà tôi coi như di chúc của tử tù.
Tôi sinh ra vào năm đói Ất Dậu 1945. Mẹ tôi sau này kể lại, cha mẹ tôi cày thuê cuốc mướn, đã sinh hai con gái, đói ăn thiếu mặc lang thang từ làng này qua làng khác. Khi trận đói hoành hành, cha mẹ tôi cõng con đi tìm miếng ăn, khi đến ven tỉnh Thái Bình cả nhà kiệt sức, mẹ hết sữa cho con trai bú, hai chị gái đói lả, chỉ còn bố cố lết đi đào vài củ khoai còn sót lại. Khi chính bố cũng kiệt sức thì cả năm cái xác thoi thóp nằm phơi trên cánh đồng. Nhưng như một phép lạ, cả nhà tỉnh dậy ngơ ngác thấy mình đang nằm trên sân gạch của một trang trại, hai ba gia nhân đang đổ từng muỗng cháo vào miệng các thây ma. Có tiếng một bà cụ cất lên với giọng hiền từ: “Các anh chị đói lắm rồi, nhưng phải ăn từ từ nhá”
Bố mẹ tỉnh lại, ngồi lên thấy hai ông bà già có lẽ là chủ nhà,: “Chúng con xin giập đầu tạ ơn hai cụ đã cứu chúng con khỏi chết đói”. Bà cụ quay qua ra lệnh cho một gia nhân: “Chú Sáu gọi chi bếp ra đây cho cháu bé này bú không thì nó lả người rồi”.
Cụ ông nói:: “Các anh chị từ làng nào đến; may sáng nay chú Sáu ra đồng sớm thấy anh chị và các cháu đói lả chưa chết nên chúng tôi cho khiêng về đây: “Dạ kính hai cụ, chúng con không có nhà cửa gì, đi cày thuê cuốc mướn đây đó, hết vụ mùa lại đi nơi khác”. “Thôi được, bây giờ đi đâu cũng chết, tạm ở lại trang trại cho các cháu khỏe lại rồi tính” “Kính hai cụ, chúng con còn khỏe mạnh, xin làm bất cứ việc gì, chỉ xin hai cụ cho bữa cháo nuôi các con” Cụ bà nói: “Nếu vậy, chị giúp cho việc chăn nuôi, còn anh theo chú Sáu ra đồng”.
Hai cụ sắp xếp cho gia đình ở một căn nhà gỗ cuối vườn, không ngờ chúng tôi đã an cư ở đó năm này qua năm khác; hai chị được các cụ cho đi học, về thì làm mọi việc lặt -vặt trong trại. Trước mỗi bữa cơm bố mẹ đều nhắc nhở các con: “Các con phải ghi khắc trong tim ơn hai cụ đã cứu sống cả gia đình mình, mai sau các cụ qui tiên thì các con phải tìm con cháu các cụ mà trả ơn”.
Tôi lớn dần lên, được đi học đến tám tuổi vào lớp năm thì biến cố khủng khiếp xảy ra. Năm 1953, chiến dịch cải cách ruộng đất ập đến; người ta lập tòa án ngoài đình, có lính cầm súng vây quanh, mẹ vừa khóc vừa kể lại, họ trói hai cụ lôi ra giữa sân đình, bất tất cả tá điền phải đánh đập, xỉa xói kể tội hai cụ là địa chủ tàn ác, bóc lột sức lao động của nhân dân, tịch thu nhà; hai ngày sau hai cụ đều qua đời, chỉ được bó chiếu thảy xuống một cái hố, không tang lễ.
Bố của các con về khóc suốt đêm, nói bố là một thằng khốn nạn sợ chết nên phải chửi mắng hai vị đại ân nhân, bố không thể sống với nỗi xấu hổ, phải đi theo hầu hai cụ dưới suối vàng để chuộc tội, bố nói mẹ phải cố sống nuôi cho con trưởng thành rồi hãy theo bố xuống suối vàng hầu hai cụ. Sáng hôm sau bố nhảy sông tự tử.
Sau đó vài năm, mẹ cứ gầy mòn dần rồi qua đời trước khi tôi học xong nghề thợ máy. Ba chị em chúng tôi đã lớn khôn, biết hết chuyện đời, âm thầm sống. Riêng tôi càng lúc càng cảm thấy mâu thuẫn gay gắt giữa lập trường giai cáp vô sản và tình nhân đạo phổ quát có ở mọi con người không phân biệt giai cấp. Tôi biêt tôi phải đóng kịch để mà sống còn; Lập trường giai cấp không thể thay thế tình yêu nước, tình yêu đồng bào và đồng loại; Và nhất là nó không thể thay thế cho tình yêu nam nữ; cái việc tôi say mê Uyển Nhung là của riêng tôi, không của giai cấp nào hết. Vì thế tôi bỏ đảng, cái đảng đã khiến cha mẹ tôi phải làm trái tình người, phải tự hủy hoại thân mạng để chuộc tội với ân nhân. Tôi vấn coi hai cụ như ông bà nội của tôi, những người không ruột thịt mà đã cứu gia đình tôi không vụ lợi. Hai chị của tôi đều đã xong đại học, có việc làm no đủ, có chồng con hạnh phúc, tất cả là nhờ hai cụ ân nhân; đáng lẽ chúng tôi đã chêt trên cánh đồng ngày nào.
Bây giờ quí vị xử tội tôi, thì tôi vẫn thanh-thản nghĩ chính quí vị có tội, tôi sẽ theo cha mẹ xuống suối vàng hầu hai cụ cho trọn đạo lý làm người.
4/ NGƯỜI YÊU
Khi biết chân tôi đã thành tật suốt đời giữa tuổi thanh xuân, tôi đã muốn quyên sinh; nhưng nghĩ cha mẹ già không nơi nương tựa ở xứ lạ quê người, tôi gắng sống. Nghĩ sâu hơn, bao nhiêu người đã làm mồi cho cá, hoặc bị hải tặc bắt đi mất tích, tôi thấy tôi may mắn lắm, gia đình còn đủ. Hai ông bà mới ngoài năm mươi nên vẫn phải tìm việc mưu sinh; may là tôi được sở xã hội chăm sóc nên không phiền ông bà nhiều; tôi quyết tâm học mong tự túc bản thân. Sau bốn năm tôi đã đậu bằng cử nhân kế toán rồi hành nghề thành công mua nhà riêng cho ông bà hưởng tuổi già.
Hằng đêm thao thức, tôi nhớ Thẩm da-diết; kể từ vụ báo tường ở học xá năm 1974, đến nay đã hai mươi năm, không có tin tức gì về chàng, nay nghe Thu Hoa kể hết chuyện, tôi xót-xa cho tình yêu hai đứa. Chàng chung thủy chờ tin tôi, nhưng thân tôi tàn tật rồi, làm sao chu toàn bổn phận người vợ, người mẹ. Chàng cần phải có gia đình, có con cái nối dõi tông đường theo ý nguyện của cha. Tôi nghĩ sẽ viết thư cho Thẩm kể hết nỗi niềm, mong chàng hiểu mà tính lập gia đình với người khác kẻo tuổi đã cao, không làm tròn chữ hiếu vói bố mẹ. Nhưng lỡ chàng không nỡ bỏ tôi thì sao? Thu Hoa kể lúc hai người ngồi trên bãi biển, nghe chuyện tôi bị tàn tật thì chàng khóc ròng có ý tìm gặp để săn sóc tôi suốt đời. Quả tình trong đáy sâu tâm hồn, tôi muốn cùng chàng đi hết cuộc đời như một người yêu, một người vợ, một người mẹ.
Thu Hoa đã trở lại Cali cả tuần rồi mà tôi vẫn chưa tĩnh trí được. Mẹ tôi tinh lắm, ôm lấy tôi, thủ-thỉ: “Bố mẹ thấu hiểu nỗi đau lòng của con, nhưng chưa biết cách nào. Nếu con chối từ hôn nhân với Thẩm thì mẹ nghĩ...nó là người trung hậu nó cũng sẽ ở vậy suốt đời” “Con nghĩ anh ấy sẽ lấy vợ để có con nối giõi tông đường theo ý nguyện của bác trai”. “Nhưng một người vợ biết là chồng mình yêu một phụ nữ khác thì liệu bà ấy có chịu nổi không, trừ khi bà ấy biết rõ và chấp nhận vì bà ấy cũng có tình yêu với chồng, hơn nữa những đứa con là mối dây buộc vợ chồng vào bổn phận và trách nhiệm; con nên biết trong đáy sâu tâm hồn phụ nữ, con cái có địa vị cao hơn chồng; họ có thể bỏ chồng nhưng không bao giờ bỏ con, trừ vài trường hợp cá biệt”
Nghe mẹ nói, Uyển Nhung thấy hé ra một tia sáng, Thu Hoa; nàng nhớ lại trong suốt tuần hai chị em ngày đêm ở bên nhau, nàng cảm nhận Thu Hoa biểu lộ một cách vô thức mối thiện cảm vói Thẩm; cả năm nay rồi, mỗi chủ nhật hai người đi biển đi núi, đi rừng với nhau, biết đâu Thẩm cũng yêu thích Thu Hoa. Nghĩ đến đây, nàng bỗng thấy tim nhói lên, chàng đã có người phụ nữ khác thay thế ta rồi. Nàng ghi nhận ngay cái tâm buồn giận ấy nhỏ-nhen quá, nàng phải hy sinh tình yêu của mình vi tương lai của chàng; nàng nghĩ sẽ nhờ mẹ dò ý Thu Hoa, còn về phần Thẩm, nàng sẽ có cách để chàng rời xa nàng.
Biết ý định của Uyển Nhung bà nói: “Chính mẹ cũng đã có nhận xét như con nhưng mẹ chưa muốn nói với con e rằng con buồn, nhưng con đã vượt qua được thì mẹ sẽ lo việc này,còn về Thẩm, con đừng tính chuyện rồ dại” “ Bố mẹ yên tâm, con phải phụng dưỡng bố mẹ
đến cuối đời”.
Bà gọi cho mẹ Thu Hoa, kể hết mọi tình tiết: “Thím thấy việc này khó không?’
“Cám ơn chị đã cho chúng em được phép bàn việc. Em không ngờ chuyện lại éo-le như vậy.
Con cái thời buổi này không thể dùng quyền cha mẹ như ông bà ta ngày xưa. Thu Hoa ba mươi tuổi rồi chẳng chịu lo chồng con, như ta xưa thì coi như gái quá lứa, mà theo khoa học ngày nay
qua ba mươi lăm thì sinh đẻ cũng khó khăn. Cách đây vài tháng nó úp mở nói sẽ dẫn bạn trai về chào bố mẹ, chúng em mừng lắm, nhất là cùng người Việt mình lại dậy học cùng trường. Chúng em van vái tổ tiên cho con gái gặp được duyên lành. Ai ngờ sự việc lại khó xử như vậy. Em chỉ thương cho cháu Uyển Nhung”
“Uyển Nhung nói cháu tự nguyện từ bỏ hôn nhân vì không thể chu toàn trách nhiệm người vợ và người mẹ, tự nguyện khuyến khích Thẩm và Thu Hoa tiến tới; thím cứ lựa lời hỏi cháu Thu Hoa xem sao, về phần anh chị thì đã hoàn toàn đồng ý rồi”.
oOo
THƯ CỦA UYỂN NHUNG GỞI THẨM:
“Anh yêu, hôm qua em đã xuống tóc qui y cửa Phật, Sư Bà trụ trì cho phép em vê thăm bố mẹ mỗi tuần một lần. Nếu anh vẫn còn yêu em thì hãy kết hôn vói Thu Hoa, để tâm hồn em thanh thản tu hành”
oOo
THƯ CỦA THU HOA GỞI UYỂN NHUNG ( một năm sau )
“Chị thương mến của em, em vừa hạ sanh cháu trai kháu-khinh, giống bố Thẩm lắm. Thế là anh Thẩm đã làm tròn chữ hiếu với tổ tiên rồi. Chúng em kính chúc chị thân tâm an lạc”.
Đào Ngọc Phong
California ngày 20 tháng 1 năm 2025 |