Giới Thiệu Sách Mới
Văn Nghệ Biển Khơi trân trọng giới thiệu:
MÀU THỜI GIAN
Tập truyện song ngữ
Nguyễn Thị Ngọc Lan

Nhà xuất bản: Nhân Ảnh, 2026
Phần Anh ngữ: Nguyễn Thị Phương Đông phiên dịch
Bìa: Uyên Nguyên Trần Triết
Dàn trang: Đỗ Huỳnh Đăng Ngọc
Sách có bán tại Amazon hoặc liên lạc tác giả lanngocnguyen12391@gmail.com
oOo
Vũ Hoàng Thư
MÀU THỜI GIAN,
MỘT BẢN TRƯỜNG CA ÂM THẦM VỀ KÝ ỨC,
TÌNH YÊU VÀ THÂN PHẬN
Tập truyện Màu Thời Gian của Nguyễn Thị Ngọc Lan là một tác phẩm được viết từ những gì sâu thẳm nhất của ký ức. Thời gian làm con người già đi trong bối cảnh chiến tranh, của quá khứ đau buồn và thời gian cũng giữ lại những vết thương, những cuộc chia ly không bao giờ thật sự kết thúc. Vì vậy, nhan đề Màu Thời Gian gợi một cảm giác thật thơ mộng và cũng là chìa khóa để đi vào thế giới văn chương của Nguyễn Thị Ngọc Lan.
Điều nổi bật đầu tiên của tập truyện là cảm thức về sự dang dở. Hầu như không có nhân vật nào trong Màu Thời Gian được sống trọn vẹn với điều mình ao ước. Tình yêu thường đến trễ, hoặc quá sớm khi con người chưa đủ can đảm để nhận lấy. Hạnh phúc thường chỉ như một thoáng rồi mất hút. Những nhân vật chính trong truyện không hẳn là những người thất bại nhưng họ đều là những con người mang trong lòng một niềm hụt hẫng. Họ tiếp tục sống rồi già đi nhưng trong sâu thẳm vẫn hiển hiện một phần đời mong manh trở về từ một mái hiên, một bến xe, một con sông, một chuyến tàu, một buổi chiều nào đó của thời tuổi trẻ.
Trong truyện “Ông Chủ Nhà”, Nguyễn Thị Ngọc Lan xây dựng một hình ảnh rất đặc sắc về một người đàn ông ngồi bên trong căn nhà. Sau bức tường kiếng, ông nhìn ra mái hiên nơi những người lỡ đường tá túc. Giữa ông và thế giới bên ngoài chỉ là vài ly của mặt kính chắn nhưng khoảng cách ấy lại mênh mông. Bức tường kiếng trở thành biểu tượng cho số phận của nhân vật. Ông nhìn thấy đời sống, tình yêu, thấy người con gái làm mình rung động nhưng không đủ can đảm bước qua ranh giới mong manh ấy để nhập cuộc. Ông có tiền bạc, nhà cửa, địa vị nhưng lại thiếu một điều căn bản nhất đó là khả năng nắm lấy hạnh phúc đúng lúc. Cô gái mà ông say mê chỉ xuất hiện trong đời ông mười ngày nhưng mười ngày ấy đủ để trở thành một ám ảnh kéo dài ba mươi năm. Tình yêu trong truyện không giống như một cuộc tình thông thường mà như một cuộc đổ vỡ đã hóa thành định mệnh.
Đặc sắc hơn, tác giả không để câu chuyện dừng lại ở cái nhìn một chiều của người đàn ông. Trong những phần sau, người con gái ấy có tiếng nói riêng, có quá khứ riêng, có những gian nan mà người đàn ông bên trong tấm kiếng không thể nào biết hết. Đây là một thủ pháp kết cấu đáng chú ý của Nguyễn Thị Ngọc Lan. Nhân vật không bị đóng kín trong định nghĩa từ tha nhân. Một người phụ nữ có thể hiện ra như đối tượng của tình yêu, của say mê mộng tưởng nhưng khi họ cất tiếng nói, lập tức trở thành một đời sống độc lập với tất cả những vết thương, lựa chọn, nhẫn nhịn và khát vọng của mình.
Từ đó, tập truyện mở ra một thế giới đa thanh. “Nguyễn”, “Chị Duyên”, “Anh Hai Quân” không chỉ là những truyện riêng biệt mà còn là những mảnh ghép bổ sung cho nhau. Cùng một biến cố, cùng một nhóm nhân vật, nhưng khi được kể từ những điểm nhìn khác nhau, ý nghĩa của câu chuyện thay đổi. Chị Duyên, trong mắt người khác, có thể chỉ là một người đàn bà nghèo, mắt kém, quét rác ở bến xe, sống đời lặng lẽ. Thế nhưng khi câu chuyện đi sâu vào thân phận của chị, người đọc nhận ra đó là một trong những nhân vật cảm động nhất của tập truyện. Chị đại diện cho một lớp người đàn bà bình thường, ít học, ít nói, không có nhan sắc, không có quyền lực nhưng có một khả năng yêu thương và chịu đựng gần như vô tận.
Còn Anh Hai Quân là một nhân vật được xây dựng trong màng lưới đạo đức khá phức tạp. Ông bỏ vợ con để đi với một người đàn bà khác nhưng hành động ấy không hẳn đơn giản như một sự phản bội. Trong hoàn cảnh nghèo đói cùng cực, không có việc làm, không có nhà cửa, ông chẳng còn con đường nào để cứu vợ con khỏi cảnh lang thang. Ông đã chọn bán đời mình để đổi lấy sự an toàn vật chất cho gia đình. Đó là một bi kịch đau đớn khi lòng hy sinh mang hình dáng của sự phản bội. Tác giả không phán xét nhân vật. Bà để người đọc nhìn thấy cái thế kẹt cùng cực của nghèo nàn, nơi đạo đức không biến mất nhưng bị bóp méo bởi đói khát, bất lực và hoàn cảnh lịch sử.
Lối nhìn không kết án ấy làm cho Màu Thời Gian có chiều sâu nhân bản. Tác giả không dựng lên những nhân vật hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu. Những con người trong truyện đều có phần yếu đuối, lầm lỡ và bất lực nhưng họ cũng có phần thương yêu, tử tế trong chịu đựng âm thầm. Cái đẹp của tập truyện nằm ở chỗ tác giả biết nhìn con người trong toàn bộ sự mâu thuẫn ấy. Một người chồng có thể vừa có lỗi vừa đáng thương. Một tình yêu có thể vừa cao quý vừa ích kỷ. Một ký ức có thể vừa sưởi ấm vừa hành hạ con người suốt đời.
Bên cạnh chủ đề tình yêu và thân phận cá nhân, Màu Thời Gian còn là một cuốn sách mang nặng ký ức lịch sử. Chiến tranh, cải tạo, nghèo đói sau 1975, vượt biên, lưu lạc, tất cả đi qua như những dòng nước ngầm. Nguyễn Thị Ngọc Lan viết lịch sử qua thân phận nhỏ bé của những người anh bỏ thân nơi chiến địa, người thương phế binh lê lết giữa đời, người mẹ tiễn con đi vượt biên, người đàn bà mất chồng, người con gái không hộ khẩu, không một mái nhà để được hiện diện hợp pháp trên chính quê hương của mình. Lịch sử trong tác phẩm vì thế không còn là một khái niệm trừu tượng mà trở thành một sức mạnh cụ thể, tàn nhẫn, đè lên từng bữa ăn, giấc ngủ, tình yêu và tương lai của nhân vật.
“Khúc Năm Tư” là một trong những đoạn tiêu biểu cho cách tác giả viết về chiến tranh. Không khí xóm đạo, sân nhà thờ, quán bên đường, những người anh trai trẻ, những giấc mơ vào đời, rồi chiến tranh cuốn đi tất cả. Những chi tiết ấy là bức tranh vừa riêng tư vừa mang tính thế hệ được mô tả qua những người trai trẻ lớn lên trong tình yêu và mộng ước. Chiến tranh đã biến họ thành xác chết, thương phế binh, tù cải tạo, hoặc những bóng người tàn tạ sau biến cố đổi đời. Tác giả không cần lên án chiến tranh bằng khẩu hiệu, bà chỉ đặt cạnh nhau hình ảnh tuổi trẻ rực rỡ và những hậu quả khốn cùng để cho thấy chiến tranh là một sự cướp đoạt khủng khiếp đến mức nào.
“Khúc Năm Sáu” lại mở ra một bình diện khác về kinh nghiệm vượt biên. Những trang viết về sông Gành Hào, ghe chết máy, biển cả, tàu ngoại quốc bỏ đi, tàu Thái, nỗi đói khát và sự sợ hãi của phụ nữ trên biển, là những trang đầy nỗi ám ảnh kinh hoàng. Ở đây, con người bị đẩy đến tận cùng của sinh tồn nhưng ngay trong hoàn cảnh ấy, tác giả vẫn chú ý đến những chi tiết rất người như tình bạn giữa những thanh niên trẻ, sự chăm sóc dành cho một cô gái say sóng, nỗi nhớ mẹ, những lời đùa để tự trấn an nhau, giấc mơ về một đời sống khác. Chính những chi tiết nhỏ ấy làm cho bi kịch vượt biên không trở thành một bản tường thuật khô cứng mà thành một kinh nghiệm nhân sinh đầy đau đớn.
Một phương diện quan trọng khác của Màu Thời Gian là tiếng nói về thân phận người phụ nữ. Trong tập truyện này, người phụ nữ thường là người gánh chịu. Họ gánh vác chuyện gian khổ, con cái, gia đình, những đổ vỡ tình cảm, những vết thương thân xác và tâm hồn. Nguyễn Thị Ngọc Lan không viết về họ như những nạn nhân thụ động. Những người đàn bà trong truyện có thể bị bỏ rơi, bị tổn thương, bị lịch sử xô đẩy, nhưng họ vẫn có một đời sống nội tâm rất mạnh. Họ biết nhớ, biết đau, tha thứ và bật dậy để tiếp tục nuôi con và nuôi chính mình qua những tháng năm khắc nghiệt. Trong “Căn Phòng Riêng”, hình ảnh người mẹ như một con thuyền chở đầy lá rụng là một ẩn dụ đẹp và buồn. Mỗi chiếc lá là một vết thương đời, kỷ niệm cũng như hy sinh mà người mẹ âm thầm cất giữ.
Văn phong trong tập chuyện của Nguyễn Thị Ngọc Lan giàu chất hồi tưởng. Câu văn của bà thường dài, mềm mại, nhiều nhịp, như đang trôi theo dòng trí nhớ. Có khi một câu văn kéo theo rất nhiều chi tiết, liên tưởng và cảm xúc chen nhau hiện về. Lối viết ấy phù hợp với bản chất của tác phẩm. Đây là văn chương của ký ức nên thường phải uốn khúc, quanh co, ngập ngừng, đứt nối rồi bất ngờ rẽ sang một hình ảnh khác để lại trở về nỗi đau ban đầu. Vì vậy, tác giả tạo cảm giác như người kể chuyện đang ngồi trước mặt chúng ta thuật lại đời mình không bằng sự sắp xếp của lý trí mà bằng trái tim còn run rẩy.
Ngôn ngữ của bà chứa đựng nhiều chi tiết đời thường. Trái vả chấm mắm ruốc, mái hiên bến xe, chiếc phản gỗ lim, ly cà phê, tấm chăn, chiếc xe Ford màu xanh, sợi dây cột tóc đỏ, những món ăn nghèo, những căn phòng cũ, những chuyến xe đò, tất cả đều trở thành thân thiết của ký ức. Những đồ vật nhỏ nhoi ấy có khả năng gợi lại cả một quãng đời, một trong những nét đặc sắc của tập truyện. Chiều sâu của đời sống biểu tượng qua những điều nhỏ nhặt bình thường đã mang văn chương của bà nét chân thật và gần gũi.
Những “Khúc” xen giữa các truyện là một hình thức rất đáng chú ý. Chúng làm cho tập truyện có dáng dấp của một bản nhạc có nhiều hợp âm và phiên khúc, trong đó truyện kể và thơ, tự sự và trữ tình, đời sống và suy tưởng, liên tục hòa vào nhau. “Khúc 52”, “Khúc Năm Ba”, “Khúc Năm Tư”, “Khúc Năm Sáu” không chỉ là những đoạn chuyển tiếp mà còn là nơi cảm xúc được đẩy lên thành tiếng nói trực tiếp của linh hồn. Đặc biệt “Khúc Năm Ba”, phóng tác từ chương 21 của The Little Prince, cho thấy một ý niệm rất quan trọng trong toàn tập. Con người chỉ trở nên cần thiết với nhau khi biết “thuần dưỡng” nhau, nghĩa là biết nhìn sâu vào nhau, chờ đợi nhau, tạo ra những nghi lễ riêng của tình yêu và tình bạn. Hai bài thơ làm nên “Khúc Năm Chín” và “Khúc Sáu Mươi” là những tiếng kêu trầm thống về thân phận phụ nữ trong xã hội mới ở Việt nam sau 1975 với những thảm kịch của tù cải tạo, kinh tế mới, xuất khẩu lao động, bán thân xứ người...
Về kết cấu, Màu Thời Gian tuy mỗi truyện có thể đọc riêng, toàn bộ tác phẩm lại vận hành như một cấu trúc liên hoàn. Một chi tiết ở truyện trước được soi sáng ở truyện sau. Một người từng đứng ở ngoại vi câu chuyện bỗng trở thành trung tâm của một truyện khác. Cách kết cấu ấy tạo nên sự quan sát toàn diện về con người và bằng cách xoay quanh điểm nhìn, Nguyễn Thị Ngọc Lan tạo chiều sâu cho nhân vật. Nếu cần xác định vị trí tinh thần của Màu Thời Gian, có thể nói đây là một tập truyện thuộc về văn chương của ký ức và lưu lạc, mang dấu vết của một thế hệ trải nghiệm chiến tranh, nghèo đói, chia lìa, vượt biên và đời sống hậu chiến.
Sau cùng, điều đáng nhớ đọng lại từ tác phẩm là lòng trắc ẩn. Nguyễn Thị Ngọc Lan viết về đau khổ nhưng không dùng nó làm màn trình diễn. Bà viết về tình yêu nhưng không lãng mạn hóa tình yêu đến mức giả tạo. Bà viết về thân xác, ham muốn, hôn nhân, mất mát, già nua nhưng phía sau tất cả vẫn là một ước muốn rất người, đó là được yêu thương và có một bàn tay nắm lấy mình giữa cuộc đời lạnh lẽo. Trong thế giới ấy, hạnh phúc có thể rất ngắn, có khi chỉ một ánh mắt, một buổi chiều, một mái hiên, một nụ hôn muộn màng cũng đủ làm thành màu sắc của cả một đời.
Màu Thời Gian vì vậy là một tập truyện buồn nhưng không tuyệt vọng. Buồn vì biết đời người nhiều dang dở nhưng không tuyệt vọng vì vẫn tin rằng trong những dang dở ấy, con người còn có thể giữ lại một chút ánh sáng của tình thương, ký ức, lòng biết ơn, sự tha thứ. Thời gian trong tác phẩm làm cho những gì chân thật trở nên sâu lắng hơn và có lẽ đó là ý nghĩa sau cùng của nhan đề. Mỗi đời người, dù âm thầm đến đâu, đều có một màu thời gian riêng, một màu được pha bằng yêu thương, khổ đau, mất mát, hy vọng và những điều không bao giờ nói hết.
Vũ Hoàng Thư
Tháng 6, 2026 |