SỐ 111 - THÁNG 7 NĂM 2026

 

EM LÀ HOA HIỆN DÁNG NGƯỜI
(thơ Phạm Thiên Thư)

Lần đầu đọc Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư, tôi mê và lậm ngay. Tôi như thể gặp được cái cảnh giới mà tâm hồn vẫn thường mơ mộng, cái cảnh giới trong Động Hoa Vàng cũng chính là cảnh giới trong tâm tôi. Tôi cứ ngỡ như ông Phạm Thiên Thư “đọc” được ý nghĩ thầm kín của tôi. Thân xác này đang sống trong thời hiện đại của khoa học kỹ thuật nhưng tâm trí tôi chưa thoát ra khỏi vùng ký ức của những thế kỷ xa xưa.

Đọc Động Hoa Vàng, tôi như thể “Lưu Nguyễn nhập thiên thai”. Tôi chẳng còn nhớ ngày tháng năm nào khi đọc Động Hoa Vàng, thời gian như nước chảy mây bay, nhiều thứ đã lãng quên, nhiều mối quan hệ đã nhạt nhòa, ấy vậy mà những câu thơ của Động Hoa Vàng vẫn lung linh trong tâm trí

Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

Trời ơi, sao mà mượt mà tha thướt quá! Hình ảnh suối tóc vẫn thường thấy trong thơ ca, nhạc, họa…nhưng với câu thơ này thì nó thi vị hóa, nó trừu tượng và đẹp làm sao. Suối tóc hay là mây chảy dài như dòng nước sông trôi. Suối tóc huyền của gái đẹp phương Đông. Tóc vàng óng ả của gái đẹp phương Tây cũng rất quyến rũ nhưng nó không thể hóa thành “mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông được”!

Người về sao nở trên tay
Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

Gót hài của em tha thướt đến diệu kỳ, hài em đạp trên cỏ xanh đẫm ánh trăng đêm, bàn tay lấp lánh sao. Em như thể Tinker Bell hay Cinderella…Em thoát ra khỏi đời thường để hóa thân như thể một nàng tiên. Em tha thướt tà áo màu thay đổi theo mùa, gót hài em cho ta thêm dài cơn mơ. Để rồi ta tiếp tục tơ tưởng: “Tóc dài cuối nội mây xa”. “Em” trong thơ Phạm Thiên Thư cũng “lãng đãng tơ ngà”, rất trừu tượng với những khái niệm mang tính biểu trưng hư: Tóc mây, hài thêu, áo lụa, tay ngà…”Em” vĩnh viễn trong tâm tưởng của những gã du tử yêu thơ, yêu cái đẹp…”Em” không hẳn là một Hoàng Thị Ngọ cụ thể. Hình bóng Hoàng Thị Ngọ chẳng qua là phản chiếu từ chính những hình ảnh trong tâm thức của thi sỹ.

Từ em khép nép hài xanh
Về qua dục nở hồn anh đóa sầu

Có cuộc tình nào trọn vẹn? có mối tình nào không sầu? càng đẹp lại càng sầu, sầu cũng chính là cái đẹp! Hình bóng em từ tà áo, gót hài cho đến vóc hạc gầy hao… làm cho ta ngày đêm thao thức, muôn đời thao thức…Vì không đặng, không trọn vẹn nên mới còn mãi thao thức, vì mãi thao thức nên “đóa sầu” từ lịch kiếp chưa tan.

Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại thương hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

Ôi chao cái gã du tử đa tình, đa đoan, đa sầu, đa cảm. Thân phận mình trong chăn ấm mà chẳng yên, thương chi hoa lạnh ngoài đồng? Vì thương hoa ngoài đồng lạnh nên gã suốt đời mơ mộng trong cái cảnh giới riêng của mình. Gã “tham” lắm! trong chăn ấm còn muốn “đèo bòng” hoa ngoài đồng. Muốn là một chuyện, được hay không là chuyện khác. Thương là sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tương lân chứ không hẳn là chuyện xác thân nhục dục. Vì đa sầu, đa cảm mà tâm tư liên tưởng: “Tường thành cũ phiến bia xưa/ hồn dâu bể gọi trong cờ lau bay”. Cờ lau của Đinh Bộ Lĩnh chăng? Không hẳn là vậy, tuổi thơ của hầu hết con trẻ chốn đồng quê chắc ai cũng từng bắt bướm hái hoa, bẻ cờ lau kia mà! Lớn lên chút nữa thì hái hoa dại tết vòng đội đầu cho người mình thương. Tuổi thơ đã xa, lớn lên tung bay bốn phương trời đành phải “xa thành thương vóc em gầy guộc hoa”.

Mốt mai lòng có nghe buồn
Mảnh trăng hiện hóa thiên đường cõi chơi

Buồn vui vì tình, vì nhân tình thế thái, vì cảnh quan chung quanh…nhưng tất cả cũng tự tâm ta. Ngay cả mảnh trăng kia cũng có thể hóa hiện thiên đường. Ấy là triết học và nhân sinh quan của nhà Phật “nhất thiết duy tâm tạo”. Khi còn thơ ai mà không từng mơ mộng về chị Hằng chú Cuội trên cung trăng. Mảnh trăng từng là cõi thiên đường mơ ước của tuổi thơ.

Động nam hoa có thiền sư
Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn

Đã từng là tu sỹ nên Phạm Thiên Thư biết rõ kinh điển giới luật hơn ai hết, thế nhưng dám đổi kinh lấy rượu tâm hư? Rượu tâm hư là rượu gì? Phải chăng là dục vọng hay vọng tưởng thế thôi. Kinh cũng là duyên, rượu cũng là duyên, duyên vốn không có tự tánh, vậy thì kinh khác gì rượu? sắc tức thị không không tức thị sắc kia mà! Nói vậy nhưng không phải vậy! Ấy là phá mê, phá chấp. Ngày xưa Đơn Hà thiền sư từng leo lên tượng Phật mà ngồi. Có thiền sư chẻ tượng Phật làm củi sưởi Tuệ Trung thượng sỹ thản nhiên gắp cá mà ăn khiến vợ vua Nhân Tông kinh ngạc… Các ngài muốn cảnh tỉnh, phá chấp cho những người mê.

Ý nào hóa hiện ngàn hoa
Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni

Đẹp làm sao! Ngàn hoa cũng từ tâm ý, vạn vật sơn hà đại dịa cũng từ tâm ý, cánh hoa đẹp cũng là tâm ý chứ bản thân cánh hoa chẳng xấu chẳng đẹp, chỉ một ý mà hóa hiện ra. Ni cô là người xuất gia tu Phật, đoạn tuyệt nhân duyên với đời, buông bỏ vạn duyên, thanh tịnh tâm ý để đi đến giải thoát. Với người tu đạo thì sắc đẹp mà người đời đam mê cũng là phiền não, ấy vậy mà chữ nghĩa cẩn nguyệt trên tà áo. Ta có thể tin rằng trong cái khoảnh khắc ảo diệu này ni cô cũng không khỏi phút chốc xao lòng. Tư tưởng Phật giáo bàng bạc xuyên suốt tập thơ nhưng vẫn không phải là thơ thiền hay thơ đạo, lại căng chẳng phải thơ tinh, thơ đời. Động Hoa Vàng ở giữa cái bờ mé của hai thế giới, nửa thực nửa mơ, dở đời dở đạo, thoáng tỉnh thoáng say. Có lẽ đây cũng là tâm thế của rất nhiều gã du tử ở đời. Dùng dằng đi không được, ở không xong…Và mơ một động hoa vàng nào đó để ngủ say quên cả đời lẫn đạo.

Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn

Nàng dù có thướt tha xinh đẹp, gót hài thêu, áo xuân hồng, áo hạ xanh, áo thu vàng…nhưng thế giới vô thường, vạn vật đổi thay không ngừng. Mộ nàng lẫn trong hoa dại. Ngày xuân ta đi tảo mộ mà “leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng”. Tử không phải là hết, tử để mà sanh, sanh đã có sẵn tử. Tử chỉ là xác thân, tâm thức không tan vì còn “thao thức” thì ắt lại tái sanh để tìm nhau. Trong Mỵ Nương Trương Chi cũng đã bảo” khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”. Triết lý nhà Phật bảo: “sự ham muốn chưa hết là nguồn gốc của tái sanh”.

Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da

Trải qua bao buồn vui tan hợp, đi qua thế sự thăng trầm. Gã du tử một ngày về khơi trầm thơm cúng dường thập phương tam thế mà tụng thời kinh. Trầm thơm, kinh đầy trí huệ bát nhã nhưng dường như trong sâu thẳm tâm can gã du tử vẫn thấy “lạnh” vì máu xuân chưa chịu yên, lòng chưa dứt…duyên đạo chưa sâu, duyên đời chẳng cạn, biết làm sao bây giờ? Phải chăng vì vậy mà “Tìm động hoa vàng ngủ say” dù đã “nửa đời mây nước du phương”.

Tỉnh ra thì giấc chiêm bao
Chuyện mười năm cũ còn nao nao lòng

Mười năm đã cũ, mười lăm năm lưu lạc, năm mươi năm lưu vong, trăm năm phận người… cho đến nghìn năm thiên cổ vẫn nao nao lòng như thường. Nao lòng vì “gót hài”,  vì “áo ni cô cẩn nguyệt”, vì vô vàn chuyện cũ ngày xưa. Đời là giấc mộng chiêm bao, những cuộc tình là những giấc chiêm bao nhỏ trong cuộc mộng lớn. Ngày xưa có gã học trò lên kinh thi, giữa đường nghỉ trọ nấu nồi kê, trong lúc chờ kê chín đã mơ thấy công thành danh toại, trải qua hoạn lộ quan trường mấy mươi năm lên voi xuống chó… Ấy vậy mà chợt tỉnh giấc thấy nồi kê chưa chín. Đừng nói là mười năm hay một trăm năm, đã từng bao kiếp luân hồi mà chuyện cũ vẫn nao nao lòng.

Non xanh ướm hỏi trang đài
Trăm năm còn lại dấu hài động hoa

Trăm năm một kiếp người, “thác là thể phách còn là tinh anh” ( Kiều – Nguyễn Du). Nhà Phật cũng bảo chết chỉ là thân xác chứ cái nghiệp dù thiện ác sẽ không mất. Một trăm năm còn lại gì? Công danh sự nghiệp ư? ngay cả kẻ thống trị cả thiên hạ cũng chỉ còn “trăm năm một nắm cỏ khâu xanh rì” thì huống gì gã du tử du phương. Cuộc tình cũng là giấc mơ thì còn lại gì? ấy thế mà “dấu hài động hoa” chưa tan, ấy là tâm thức, là tinh anh.

Mai sau trời đất thái bình
Về ngang núi phượng lưng chừng cuồng ca

Thái bình là ước mơ, là niềm mong mỏi của con người nhưng xưa nay thái bình rất hiếm khi, có chăng chỉ là những quảng thời gian ngắn ngủi. Đời thái bình thịnh trị ngay khi “ngủ say” trong động hoa vàng. Xưa có lão thiền sư lên non hú một tiếng dài lạnh cả thái hư, rung cả đất trời, cảm khái lòng người. Gã du tử cũng thế thôi, lên non cất tiếng ca cực đỉnh cuồng cơn, cơn cuồng thống khoái hạnh phúc mà người đời dễ mấy ai đạt đến. Cái cuồng sung sướng của gã du tử không phải là cái sướng thỏa tình dục hay thỏa vật chất, quyền lực. Cái cuồng cực đỉnh sung sướng này vô ngã, đạt đến cảnh giới như “ngộ” của lão thiền sư. Ôi, những gã du tử trong thiên hạ xưa nay có mấy ai mà không mơ một lần lên non cất tiếng cuồng ca say trong đất trời.

Phạm Thiên Thư tài hoa rất mực, ông lại may mắn có được thiên thời - địa lợi - nhân hòa. Thuở ấy miền Nam tự do. Văn thơ, nhạc họa như thể trăm hoa đua nở. Sách viết ra đến đâu bán hết đến đó. Người miền Nam dù bình dân hay trí thức đều yêu thích văn thơ, nhạc họa, yêu thích thơ ca. Động Hoa Vàng ra đời trong thời điểm này được đón nhận nồng nhiệt, đã thế lại được nhạc sỹ tài ba Phạm Duy phổ nhạc (một trích đoạn) nên tác phẩm càng nổi tiếng hơn, bay cao, bay xa, bay vào tâm hồn người yêu thơ, yêu nhạc. Không chỉ Động Hoa Vàng mà còn rất nhiều bài thơ khác nữa cũng được Phạm Duy phổ nhạc… thế là thơ Phạm Thiên Thư ngự trị trong lòng người. Giả sử Phạm Thiên Thư không vào Nam e rằng chúng ta sẽ không có Động Hoa Vàng và nhiều bài thơ bất hủ khác. Giả sử Động Hoa Vàng ra đời vào cái thời điểm sau 75 hay hiện nay thì chắc chắn sẽ không được nổi tiếng như thế. Bằng chứng là Phạm Thiên Thư làm cả mấy chục ngàn câu thơ tiếu liệu pháp sau 75 nhưng hầu như chẳng mấy ai đọc và cũng chẳng mấy ai quan tâm chứ đừng nói chi là yêu thích. Thời thế đã cho ta một Phạm Thiên Thư, hoàn cảnh xã hội đã cho chúng ta một Động Hoa Vàng lung linh, diễm lệ. Phạm Thiên Thư là một thi sỹ tài danh, với Động Hoa Vàng và những bài thơ tuyệt hảo khó có ai có thể sánh được. Nhiều người không đọc thơ mà chỉ nghe nhạc Phạm Duy nên cũng biết đến Phạm Thiên Thư. Sức sáng tác của Phạm Thiên Thư quả thật mạnh mẽ và bền bỉ. Ông viết suốt cuộc đời, tuy nhiên những bài thơ sáng tác sau này không còn giữ được cái phong khí ngày trước, không còn được cái hào quang của một thuở chưa xa.

Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0526

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026