MỘT MẨU CHUYỆN ĐỜI:
NƯỚC NON NẶNG MỘT NHỜI THỀ
Đào Ngọc Phong
PHẦN I:
NỖI ĐAU CỦA MẸ NĂM 2000
Thế mà thoáng chốc mình đã bảy mươi lăm, vượt qua cái ngưỡng “thất thập cổ lai hy” của cổ nhân; đáng lẽ mình đã “ngủm” từ một chín bảy sáu, lúc mới ngoài năm mươi.
Vợ mình đã qua đời được một năm, hai con đều có gia đình riêng sinh sống ở những tiểu bang xa, một mình mua căn hộ một phòng trong khu nhà già yên tĩnh không xa khu Little Sai Gòn bao nhiêu. Cộng đồng Việt ở đây giống như một cái làng, hầu như đi uống cà fe, tới một tiệm phở, một quán bánh xèo...mình vẫn có cảm tưởng như đang sống giữa khu chợ Bàn Cờ, hay chợ Vườn Chuối. Đời sống tinh thần và vật chất thật thoải mái
Mình sinh năm 1925 ở Hà Nội trong một gia đình thương gia giàu có, sinh được hai con trai; anh cả lớn hơn mình ba tuổi, sinh năm 1922. Cha mẹ mình vốn nghèo từ nhỏ, cha làm nghề thợ xây, mẹ buôn bán vặt-vãnh. Cha làm công cho một công ty xây dựng lâu năm, lại có tài tổ chức điêu khiển nhân công nên dần dần được ông chủ cho làm chức quản lý, lương bổng cao, tích góp được nhiều tiền. Vào khoảng năm 1920 sau khi đại chiến thế giới kết thúc, nhu cầu xây dựng tăng mạnh, cha mở riêng một cửa hàng bán vật liệu kiến trúc, trở nên giàu, xây nhà lầu; cha không được học nhiều, nên ước vọng con cái phải học cao. Anh cả vào năm 1944 đã tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Công Chánh cuối thời Pháp thuộc, cha tính cho anh sang Pháp học tiếp đại học vì Paris đã được giẳi phóng khỏi ách đô hộ của Đức Quốc Xã; nhưng chưa kịp lo hồ sơ thì anh bỗng nhiên mất tích. Cha tuy học ít nhưng kinh nghiệm đời daỳ-dạn, có nhiều bằng hữu khắp nơi bí mật báo cho cha biết anh cả đi theo một đảng kháng chiến quốc gia ở tỉnh Hòa Bình bị Việt Minh truy giết khoảng giữa năm 1946.
Mình không có năng khiếu về kỹ thuật, về kinh doanh thương mại như cha và anh cả mà thiên về văn chương, nhưng cha nói chỉ cần con tốt nghiệp đại học gì cũng được là cha mãn nguyện rồi; vì thế sau khi mình đỗ tú tài ban triết năm 1944, cha liền lo cho mình qua Pháp. Ở Pháp được hai năm thì nhà báo tin buồn anh cả đã chết. Cha viết thư dặn-dò con không được về nước trong lúc này vì tình hinh trong nước rối-ren lắm; Việt Minh đang liên kết với Pháp và Trung Hoa để diệt các đảng phái quốc gia. Cha mẹ thấy việc làm ăn càng ngày càng khó khăn, sẽ tính bán nhà vào Sài gòn. Cha viết: “Bố học ít nhưng bố không tin những lời nói cao xa viển- vông; bố chỉ nhìn vào thực tế đời sống, dân chúng làm ăn có sung túc không, con cái họ có được học hành tử tế không; bố thấy rõ ràng nghề kinh doanh của bô không thể nào được chấp nhận trong chế độ cộng sản, vì thế con cứ yên tâm học hành theo sở nguyện của con, đừng vội về nước; mẹ khóc hoài về cái chết của anh con”.
Ôi, anh của tôi, người thanh niên thông minh tháo vát có óc thực tiễn của bố, lẽ ra đã du học đậu bằng ký sư công chánh Pháp, có lòng yêu nước nồng-nàn bây giờ đã vùi thây đâu đó cùng bao nhiêu đồng đội cũng ở tuổi thanh niên. Thủ phạm là ai? Là những thế lực ngoại bang muốn tiêu diệt mọi tinh hoa, tiềm lực tinh thần dân tộc. Tôi phải nghiên cứu kỹ vấn đề này. Vì sinh sống học hành giữa lòng Paris, theo dõi tình hình chính trị hằng ngày, tôi thấy rõ cả đảng cộng sản Pháp lẫn các đảng dân chủ tư sản đều không muốn cho dân tộc Việt Nam được độc lập tự chủ. Cho nên việc tận diệt những đảng phái kháng chiến quốc gia là mục tiêu chung của họ.
Mặc dù học văn chương Pháp là chính, vi tôi mê nhiều tác phẩm của những văn hào Pháp, nhưng tôi vẫn đi dự thính những lớp triết để hiểu rõ hơn về những trường phái Mac-xít khác nhau, xem đảng Cộng Sản Viêt Nam nói riêng, đảng Cộng Sản Đông Dương nói chung đang theo trường phái nào. Tôi thấy dù họ tự dán nhãn Xit-ta-lin-nit hay Mao-it, thì việc giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân Pháp không phải là mục tiêu chính hay là mục tiêu cuối cùng, mà chỉ là giai đoạn một để tiến tới giai đoạn hai là phụng sự cho đế quốc cộng sản không còn bản sắc quốc gia dân tộc. Họ chỉ giả danh yêu nước mà thôi. Vi thế tôi lấy làm lạ, có nhiều trí thức Viêt Nam du học ở Pháp có bằng cáp cao về mọi ngành ngay cả ngành triết học không nhận ra điều đó, về nước phục vụ Viêt Minh để rồi vỡ mộng, sống một đời thân tàn ma dại, uổng phí bao công lao học hành. Anh nói anh yêu nước mà lại hùa theo ngoại bang đi giết những chiến sĩ yêu nước.
Tôi cũng đã đọc ít nhiều về trường hợp văn hào Pháp Andre Gide; có lúc ông mê chủ nghĩa cộng sản, nhưng sau khi được thăm viếng Liên Xô tận nơi, trở về viết về sự thất vọng của mình. Ông đã từng viết nhiều tiểu thuyết chống lại tập tục đạo đức giả của xã hội Pháp, chống lại định chế tôn giáo cổ hủ, chống lại chủ nghĩa thực dân, bây giờ chông lại chủ nghĩa cộng sản, mà tuyên dương những giá trị siêu việt tiềm ẩn trong mỗi cá nhân. Ảnh hưởng của ông trên thế hệ thanh niên Pháp sau thế chiến rất lớn. Vậy mà vẫn có những tri thức trẻ cổ võ chủ nghĩa cộng sản, mặc dù họ sống sung túc trong xã hội tư bản. Phải chăng đó là căn bệnh chung của những trí thức sa -lông. Với cái chết của anh cả, tôi hoài nghi những lý thuyêt viển vông, những lời tuyên truyền láo khoét.
Cái khổ tâm của văn hào Andre Gide là ở chỗ ông là người Pháp mà lại chống chế độ thực dân của Pháp trong nhiều thuộc địa trên khắp thế giới. Cuộc đời ông trải dài từ 1869 đến 1951, dài gần bằng thời gian thực dân Pháp cai trị Viêt Nam. Nếu ông lưu ý đến lịch sử Việt Nam thì hẳn ông sẽ đau lòng biết bao khi thấy thực dân Pháp đã giết bao thanh niên tinh hoa của dân tộc Việt.Ngay cả sau khi đã thua Đức lẫn Nhật lại còn liên kết với cộng sản tiếp tục truy giết nhiều chiến sĩ kháng chiến quốc gia, để rồi cuối cùng bị cộng sản lật kèo đánh tan tác năm 1954. Mặc dù ông đã nhận ra chế độ Liên Xô chỉ là một cách mạng giả mạo, nhưng nhiều trí thức trong những xứ tư bản vẫn tin những lời tuyên truyền cỷa họ là thật.
Bản thân tôi tự thấy có những mâu thuẫn giằng co, ray-rứt trong tâm can; mình học hành sinh sống giữa xã hội Pháp mà nhìn người Pháp là những kẻ ngoan cố không chịu trả độc lập cho nước mình, ít ra là cũng phải như những thuộc địa cũ của Anh. Năm 1947 khi hay tin ông được giải Nobel văn chương, tôi không cảm thấy vui cho người trí thức thất bại trong hành động; bản thân tôi cũng sẽ thất bại như thế. Trước cái chết của anh cả, tôi thấy bằng cấp của tôi vô vị, vô ích, vô nghĩa, vô dụng. Tôi không muốn học lên nữa, vì dù có đậu cao thì tôi vẫn chỉ là một dân thuộc địa, ngoải rìa xã hội chính quốc. Dân Việt mình có bao nhiêu bi kịch và thảm kich trong hoàn cảnh xã hội, lịch sử của riêng mình, tại sao cứ đi nghiên cứu về những nhân vật tiểu thuyết của dân tộc khác? Cái chết của anh tôi là một thảm kich cho gia đình tôi cũng có thể là đề tài cho một cuốn truyện chứ?
Năm 1950 tôi đậu bằng cao học văn chương, viết thư cho cha nói con không muốn học lên nữa, con muốn về nước phụ cha buôn bán, vừa để an ủi mẹ . Nhưng cha mẹ đều quyết liệt bắt tôi phải chờ cho đến khi chiến tranh kết thúc. Cha nói bây giờ bố mẹ chỉ còn mình con là con trai, con không thể về giữa lúc thanh niên cả hai bên chết vô nghĩa trong bom đạn ngoại bang. Cha nói nếu con không xin được việc làm, một chân giáo viên chẳng hạn, thì cha mẹ thừa tiền nuôi con . Tôi khóc thầm tạ ơn cha mẹ; nhưng cũng dùng tiền giao thiệp đây đó để kiếm được một chân dạy học bán chính thức trong một trường trung học tỉnh lẻ, tự mình kiếm tiền nuôi thân. Tôi vùi đầu nghiên cứu, tập tành viết báo gởi bài đăng trên vài tạp chí văn học . Hóa ra nghề báo và nghề giáo lại là cái nghiệp theo đuổi suốt đời tôi, cái nghề bán chữ chẳng ra tiền, không như cha tôi bán một bao xi-măng, một phiến gỗ lời gấp ba giá vốn.
Trong thâm tâm tôi muốn về quê hương để tìm ra manh mối cái chết của anh tôi. Tôi theo sát tình hình chiến tranh Việt Pháp từ đầu năm 1950, nhất là sau khi Trung Hoa cộng Sản đã chiến thắng Trung Hoa Dân Quốc, chiếm toàn quyền cai trị đất nước. Người Pháp khó thắng được mặc dù đã tỉnh ngộ cần phải có sự hợp tác của những người kháng chiến quốc gia; có lẽ quá muộn, vì càng ngày càng lộ ra cộng sản Tàu chi phối sâu vào cuộc chiến. Tôi lấy làm lạ sao có người đàn anh xuất sắc trong ngành triết học lại về nước theo cộng sản, không lẽ ông ấy không đọc tác phẩm của văn hào Andre Gide “ Trở Về Từ Liên Xô”?
Tôi viết thư về cho cha nhắc cha nên tính trước bán nhà vào Sài gòn sinh sống, ít ra cũng lánh xa điểm nóng một thời gian, chứ chắc gì vào Nam là hoàn toàn an bình đâu. Tôi chỉ mơ hồ thấy viễn cảnh như vậy thôi.
Mẹ viết thư nhắc năm nay con gần ba mươi , đã xong đại học rồi thì tính lập gia đình đi, chứ cứ sống long-nhong rồi lấy một cô đầm thì làm sao về quê được, bố mẹ buồn nhiều về anh cả, chỉ còn con là con trai về quê lấy vợ Việt “ trâu ta ăn cỏ đồng ta” để cha mẹ có cháu nội vui cửa vui nhà. Mẹ nói con gái bác Hiền tiệm may tên Ngọc Viên kém con năm tuổi hay hỏi thăm con đấy; nó ngoan mà tháo vát lanh lợi thường qua nhà giúp mẹ giỗ Tết, trông coi cừa hàng. Cha con cũng thương nó lắm, nếu nó lấy con thi bố mẹ an tâm có dâu hiền.
Bác Hiền là chủ một tiệm may Âu phục nổi tiếng, vốn là bạn thân với cha từ lâu, hai gia đình thường chạy qua chạy lại thân tình lắm. Khi mình đang học thi tú tài thì Ngọc Viên còn bé tí, mới học lớp đệ lục, mình chả để ý đến nó, thế mà thấm thoắt nó đã là môt thiếu nữ tháo vát gíup cha mẹ điều hành tiệm may. Nhìn tấm hình Ngọc Viên mẹ gởi qua, mình ngạc nhiên thấy “cô nàng” xinh đẹp quá. Nhưng làm sao đây? Muốn cưới vợ Việt thì phải về Viêt Nam sinh sống, mà cha mẹ lại bảo mình phải chờ tình hình chiến tranh ngã ngũ ra sao, không được về quê lúc này. Đâu có thể đính hôn với người ta giữa tình hình biến động mâp-mờ, rồi để lỡ một đời con gái thì sao đành?
Mình viết thư về trình bày sự việc, nói đời con gái có một thời, lỡ ra non sông cách trở con không dám hứa hẹn gì, nếu Ngọc Viên tìm được ai khác thì cứ tiến tới vì nàng đã hai mươi mấy rồi.
Chắc là cha mẹ hiểu nên không nhắc nhở việc đó nữa. Thật ra trong thâm tâm mình không muốn vướng vào việc vợ con, vì tự thấy “đầu óc” mình bất thường, đêm ngày cứ chìm vào những ý tưởng mơ hồ, hết sách này qua báo kia, bài văn này qua bài báo kia, làm sao lo toan những vấn đề thực tế cho vợ con được? Họa chăng có phụ nữ nào “đồng điệu” chấp nhận lối sống của mình mà không than oán; nhưng khó mà tìm được người vợ như vậy.
Qua năm 1953, mình theo sát chiến sự trong nước qua báo chí, đài phát thanh và càng ngày cảm thấy phia cộng sản chiếm ưu thế hầu hết nông thôn, phía Pháp thụ động bảo vệ thành thị, mà Pháp thì đã kiệt quệ sau thế chiến rồi, khó thắng được; đã thế người Pháp vẫn dùng-dằng không trả độc lập hoàn toàn cho Viêt Nam, nên dù có lập những chính phủ quốc gia chống cộng sản đi nữa cũng không lôi kéo được quần chúng ủng hộ.
Rồi thì đợt cải cách ruộng đất do Trung cộng chỉ huy phát động khiến mình càng lo hơn, viết thư về giục cha mẹ tính gấp việc bán nhà di cư tạm vào Sài gòn, nếu chậm trễ có thể mất hết sản nghiệp.
Một buổi sáng đang giảng bài trong lớp, tôi được văn phòng thông báo sau buổi học có một người khách muốn được gặp mặt nói chuyện.
Thật bất ngờ, người khách là một thiếu nữ Việt Nam, đang ngồi trong phòng giáo sư. Cô mặc áo dài Viêt Nam màu mỡ gà trang nhã, tóc xõa dài, khuôn mặt trái xoan xinh-xắn trạc ngoài hai mươi. Cô đứng lên cúi chào nhỏ nhẹ nói: “Kính chào giáo sư Lê Vinh, tôi xin tự giới thiệu tôi tên Sơn Thảo, Hoàng thị Sơn Thảo”.
Một ý nghĩ thoáng trong đầu “Sơn Thảo....loài cỏ núi, tên lạ”.
“Tôi đã đọc nhiều bài báo của giáo sư về văn học Pháp, tôi thich lắm, hỏi dò nhiều người quen mới biết giáo sư đang làm việc ở đây, nếu không gì trở ngại thi xin giáo sư cho tôi được tiếp chuyện”
“Vâng thưa cô, tôi rất hân hạnh được độc giả cho ý kiến về những khuyết điểm trong các bài viết, quý lắm; nhưng ở đây bất tiện , chúng ta có thể ra một quán ngồi nói chuyện tự do không. Vả lại xin cô đừng gọi tôi là giáo sư, tôi chỉ là một giảng viên tạm thời không có chức tước gì.”
Nàng dạn-dĩ tự nói về mình tự nhiên như quen biết tôi từ lâu. Hóa ra nàng học chương trình Pháp ở Sài Gòn, bố là bác sĩ , đậu tú tài xong sang Pháp học ban cử nhân văn chương; nàng nói những bài viết của tôi giúp nàng hiêu rõ hơn về những tác giả trong văn học sử Pháp; lại biết tôi là người Việt nên tìm đến mong học hỏi thêm.
Mình nghĩ thầm, có người “đồng điệu” rồi. Hai chúng tôi nói chuyện với nhau rất hợp, bằng tiếng Việt, thật thú vị.
Nàng sống ở Paris, hẹn mỗi sáng chủ nhật lái xe đến thăm tôi. Mỗi lần gặp, tôi không dám nói gì về chính trị; tự nhủ tuyệt đối không đả động gì về quan điểm này nọ, tế nhị lắm. Cứ nói về văn chương là vui rồi. Vài lần sau nàng xưng “em”, nói “Em bằng tuổi em gái của anh thôi”.
Nguy quá, cứ mỗi tối thứ bảy là tôi mong mau sáng chủ nhật được gặp nàng. Có lẽ khung cảnh tỉnh lẻ cô tịch quá, có mỹ nhân đồng hương đến thăm quả là một hạnh phúc hiếm hoi; nhưng tôi tự cảnh tỉnh mình “Đừng tưởng tượng quá nha, biết đâu nàng đã có người khác rồi, ở tầng lơp cao; mình có danh vọng, sự nghiệp tiền bạc gì mà leo cao? Đừng để tình cảm lấn sâu . rồi thất vọng ê chề đấy; vả lại mình đã tự đặt nguyên tắc không dính vao tình ái mà; cứ ngồi với nhau nhâm nhi cà fe mỗi tuần như vầy là hạnh phúc rồi”
Nửa năm qua đi, tôi mơ hồ cảm thấy tình cảm của nàng với tôi hình như đang tiến đến mức hơn một tình bạn văn chương; đồng thời tôi cũng thấy mình không thể tiến xa hơn, có một cái gì cản tôi lại, một rào cản vô hình.
Tôi vẫn theo sát tình hình chính trị tại quê nhà và nội tình nước Pháp; cho đến khi Điện Biên Phủ im tiếng súng, thì tôi thở một hơi dài “Việc phải đến đã đến, tôi không phải là dân Pháp để mà buồn; tôi là người Viêt Nam nhưng lại không mừng, vì đó là chiến thắng của phe cộng sản đối với phe tư bản; còn dân tộc Việt thua cả hai”.
Qua nhiều lần trò chuyện, tôi nghĩ gia đình nàng thuộc quốc tịch Pháp, nên tránh né không muốn nàng biết quan điểm của mình và ngược lại, nên chủ nhât sau đó tôi viện cớ bận việc gia đình riêng xin lỗi không gặp nàng được. Đây cũng là dịp thử nghiệm tình cảm của mình; nếu là tình yêu một chiều thì phải né đi kịp thời.
Một sự cố khách quan giúp tôi, nhận điện tín của cha: “Chiến tranh đã xong, con có thể về, nhưng về Sai gòn nhá, bố mẹ đã bán nhà Hà Nội, mua nhà Sài gòn; gia đinh bác Hiền đã vào Nam mấy tháng nay rồi, bác giữ chìa khóa nhà mình. Bố mẹ phải đi Hòa Bình dò tìm hài cốt anh con”
Mắt tôi ngấn lệ, anh tôi chỉ còn là một nắm xương tàn, nhưng chẳng ai biết được ở đâu. Thương cha mẹ, nuôi con trưởng thành biết bao nhiêu công sức , cái Ác từ đâu nỡ giết bao thanh niên tuấn tú, tài năng như thế. Hài cốt của anh tôi, đúng rồi, tôi không thể quên, đó là quê hương tôi; tôi chợt nhớ bài thơ của thi sĩ Tản Đà:
Nước non nặng một nhời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ nhời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại, non còn đứng trông
.......................................................
.......................................................
Tôi phải về lo cứa hàng cho cha, bỏ hết chữ nghĩa vô dụng, sẽ chỉ nhớ cát, xi măng, gỗ, gạch, ngói. Tôi báo cho nhà trường sẽ nghỉ việc từ tuần tới vì phải về quê săn sóc bố mẹ già. Tôi báo cho Sơn Thảo một ngày trước khi đi.
Vĩnh biệt em, mai sau có khi nào gặp lại anh, em sẽ chỉ thấy một công nhân lam-lũ người đầy bụi cát, chẳng còn phải là một thư sinh văn nhã; có lẽ lúc đó em sẽ lặng- lẽ bỏ đi.
oOo
Bác Hiền mở lại tiệm may âu phục tại đường Lê Thánh Tôn; hai bác vô cùng kinh ngạc khi thấy tôi bước vào, mười năm rồi. Hai bác gọi Ngọc Viên ra chào; chà, cô nàng trông xinh lạ, e lệ chào anh; nét đẹp của nàng có vẻ sắc xảo so với nét mong-manh của Sơn Thảo. Bác gái nói: “Em nó vẫn chờ anh đấy”. Bác trai lườm bác gái: “Bà này hay nhỉ, cháu mới xuống máy bay còn mệt, lên lầu nghỉ ngơi rồi ăn cơm cùng gia đình. Ngọc Viên dẫn anh lên lầu “. Mình nghĩ bác trai thật khéo.
Nàng nhìn mình cười nhẹ “Anh theo em”’. Đúng là Sơn Thảo có nét Tây, còn Ngọc Viên rõ là nét Viêt Nam, chờ phép của cha mẹ. Mình hỏi: “Em còn đi học hay đã nghỉ rồi? “ Xong tú tài rồi em không thích học lên nữa, em thich nghề buôn bán như hai bác bên anh; hồi anh ở bên Tây em qua học nghề hai bác đấy”.
Mình nghĩ, thế là mình có phụ tá rồi, mình sẽ mở lại tiệm buôn bán vật liêu như cha. Ngọc Viên thạo việc sẽ giúp ta nhiều.
Trong bữa cơm mình ngỏ ý đó thì hai bác tỏ vẻ hân hoan, bác gái cười vui:”Bác tưởng cháu về xách cặp làm ông giáo chứ? Hóa ra theo gót cha, nhưng cực lắm đấy cháu ạ, không nhàn- nhã như đi dạy học đâu” “ Cháu biết chứ ạ. Nhưng có Ngọc Viên trợ tá thì cháu chả lo”
Mọi người cười nhìn Ngọc Viên khiến cô nàng đỏ mặt. Quả thật mình cảm thấy nàng có tác phong một người vợ đảm đang.
Bác trai nói: “Trước khi bố cháu đi Hòa Bình về việc anh cả, có gởi gấm cháu cho hai bác, để một số tiền lớn cho cháu dùng. Cháu có thể dùng tiền đó mà mở tiệm; nghỉ ngơi cho thật khỏe rồi vào việc , Ngọc Viên nó sẽ dẫn cháu đi làm giấy tờ, và giới thiệu với những nguồn hàng”
Thế là cả tháng trời hai đứa sát cánh ra quận, lên Bộ Kinh tế, Sở Thuế xin môn bài, làm bảng hiệu, sơn sửa nhà cửa, mời các quan chức đi ăn, lên báo quảng cáo...Quả là nàng lanh lợi tháo vát biến báo giải quyết nhanh nhiều vấn đề nan giải. Tôi lăn mình vào lao động, mặc quần áo công nhân, dọn dẹp, khuân vác, sơn phết, săp xếp ...Ngày ngày ăn cơm cùng gia đình bác Hiền. Hai bác nói: “Hai bác cứ nghĩ cháu đi học Tây về thì mặc đồ Tây xách cặp đi xe hơi, không ngờ cháu giỏi thế” “Sống bên ấy một mình phải tự lo mọi cái, cháu quen với công việc nặng nhọc thưa hai bác”.
Phải gần ba tháng mới lo xong mọi thủ tục, chờ ngày khai trương có cha mẹ về làm chủ. Lo việc nhưng tôi không quên theo dõi thời sự, tin tức cha mẹ; may là Ngọc Viên quán xuyến mọi việc lăt vặt. Hiệp định Geneve đã ký kết xong, tôi nóng lòng quá, vì bây giờ tháng 9 năm 1954 mà quân đội cộng sán sẽ vào tiếp quản thủ đô vào tháng 10; không biết bố mẹ có về kịp thời hạn không?
Gần gũi Ngọc Viên một thời gian, tôi cảm thấy dường như tôi và nàng thuộc về nhau. Một buổi trưa về trễ sau khi lo xong giấy tờ, tôi mời nàng đi ăn tiệm; tôi muốn nói với nàng một điều sẽ phá vỡ nguyên tắc của tôi từ hồi còn say mê chữ nghĩa, nguyên tắc không dính vào việc vợ con.
“Ngọc Viên à, từ lúc cùng em lo việc, anh cảm thấy anh thuộc vê em rồi “. Mắt nàng như sáng lên long-lanh, nhìn tôi trìu mến: “Em thuộc về anh từ lâu ; bác gái kể mấy năm trướccó gởi thư giục anh lấy vợ, đã gởi hình của em cho anh coi, anh nói sợ non sông cách trở chiến tranh kéo dài không dám hứa hẹn e làm lỡ thời con gái của em; nhưng không hiểu sao em cứ tin tưởng sẽ gặp anh lại và chúng ta sẽ....”
Tôi nắm tay nàng: “Chúng ta sẽ thưa chuyện với thầy mẹ nhá, nhưng có bao giờ em nghĩ anh vướng vào một cô đầm không?”. “ Thì thôi, anh không thương em thì em chịu”;Thoáng một giây, hình ảnh Sơn Thảo hiện lên trong tâm, nhưng quả thực lòng tôi chưa đủ tình yêu với Thảo, có chăng là tình cảm mến mà thôi.
“Hồi anh ở bên Tây, mẹ thuờng viết thư kể Ngọc Viên hay sang giúp cha mẹ việc nhà lặt vặt cùng tiếp khách buôn bán, trong lòng anh luôn thầm cám ơn em, bây giờ tình cảm biết ơn đó biến thành tình yêu em rồi”
Mắt nàng chớp-chớp như có chút nước mắt “Em còn yêu anh trước nữa; việc trước bỏ, từ bây giờ em không cho phép cô nào yêu anh đấy”. Mình cười xòa:”Thì đã nói anh thuộc về em rồi”.
Trong bữa cơm chiều, chúng tôi cùng đứng lên nói: “ Thưa thầy mẹ, chúng con đã quyết định tiến tới hôn nhân, xin trình lên thầy mẹ cho phép”.
Hai bác lộ vẻ xúc động; bác gái lấy vạt áo lau nước mắt đứng lên ôm lấy hai đứa “Bố mẹ chờ đợi việc này từ lâu rồi”.
Hai bác quyết định chờ cha mẹ tôi về sẽ làm lễ đính hôn rồi thành hôn luôn. Đời tôi hoàn toàn thay đổi, một phần cũng vì muốn cho cha mẹ có con dâu ngoan, và sẽ có các cháu nội quây quần lúc tuổi già cho vơi đi nỗi buồn mất con trai cả.
May sao, tuần sau cha tôi đánh điện báo vài ngày nữa sẽ về bằng máy bay.
Cuộc đoàn tụ vừa vui vừa buồn; cha mẹ mừng vì có con dâu ngoan,nhưng buồn vì việc dò tìm hài cổt anh cả không có kết quả, trử ra vài thông tin rời rạc. Cha nói người dân quanh vùng mặt ai cũng như cúp xuống, nói năng nửa miệng dè chừng; gặp người lạ tỏ vẻ sợ sệt, nghe hỏi việc gì liên quan đến chiến tranh đều vội vàng lảng tránh. Cha mẹ thất vọng đành trở về cho kịp.
Bác Hiền trai nói: “Tôi đã nghe nhiều bạn bè kể như vậy, nên khi hai bác về Hòa Bình tôi lo thầm ; họ mà nghi hai bác là gián điệp địch thi chỉ có rục xương trong tù. Thôi... ông bà phù hộ cho hai bác về an tòan chúng tôi mừng lắm. Bây giờ chúng ta cùng qua nhà mới xem hai cháu sửa soạn ra sao”
Cha mẹ tôi đều sửng- sốt thấy một cửa tiệm đầy đủ mặt hàng sẵn sàng khai trương. Bác Hiền kể lại mọi chuyện, nói chỉ hai vợ chồng chúng nó lo đấy. Ngọc Viên đỏ mặt nấp sau lưng mẹ.
Sau đám cưới chúng tôi nghỉ tuần trăng mật nửa tháng rồi khai trương của hàng.
Rất nhiều khách hàng cũ của cha từ Hà Nội di cư vào Nam vẫn tiêp tục đến mua hàng nên năm đầu tiên đã có dấu hiệu phát đạt. Ngọc Viên hạ sanh con trai đầu lòng đặt tên Lê Vũ, khiến cả hai bên ông bà nội ngoại vui sướng, nhất là mẹ tôi suôt ngày nuôi cháu nội không biết mệt, để cho vợ chồng tôi lo việc buôn bán. Tôi mừng vì hầu như bà hết phiền muộn về việc anh cả. Cám ơn em, Ngọc Viên, đã sanh con trai đầu lòng như một món quà báo hiếu với cha mẹ.
Hai vợ chồng tôi làm việc không ngơi tay; tuy vậy trong tâm tôi không ngừng suy nghĩ làm sao tìm được hài cốt của anh cả, phải làm rõ thủ phạm nào đã giết anh. Rảnh rỗi lúc nào tôi vào những tiệm sách cũ lùng sục tài liệu sử liên quan đến những đảng phái cách mạng từ 1940 đến 1950., những tạp chí, hồi ký của những chiến sĩ cách mạng. Thỉnh thoảng tôi lên Trung Tâm Văn Hóa Pháp tại Sài Gòn tìm sách báo liên quan, nhất là sống lại vài phút Paris nói tiếng Pháp “cho đỡ nhớ” với một vài nhân viên; họ tỏ ra rất thích, mời tôi sinh hoạt hàng tuần.
Nhiều đêm thức giấc nửa khuya, tôi vào phòng làm việc miệt mài đọc và săp xếp tài liệu. Có lần, Ngọc Viên chợt tỉnh dậy không thấy chồng bên cạnh, bèn qua phòng sách ôm lấy cổ tôi thì thầm: “Em vẫn biết mình không xa được chữ nghĩa đâu, nhưng em tôn trọng sở thích của mình; em chỉ nhắc mình đừng thức khuya quá mất sức”.
“Em yên tâm, chữ nghĩa này không phải như hồi trẻ anh mê, mà là chữ nghĩa có liên quan đến thực tế đời sống, nó liên quan đên cái chết của anh cả. Anh biết trong lòng cha mẹ vẫn âp ủ ước ao tìm được hài cốt anh cả để đem về thờ cúng nên cố tra cứu mọi tài liệu sách báo, và tìm những bậc tiền bối còn sống sót để hỏi han”
Chàng âu yếm dìu nàng về phòng.
oOo
Việc buôn bán phát đạt dần, vợ chồng tôi đã có một số vốn khá, cha mẹ sang tên nhà cửa cho chúng tôi, nghỉ dưỡng già vui với các cháu, vì hai năm sau Ngọc Viên lại sanh thêm con gái xinh đẹp như mẹ, đặt tên Ngọc Vân.
Mặc dầu đời sống vật chất sung túc, gia đình hạnh phúc nhưng y như Ngọc Viên nhận xét “Em vẫn biêt mình không rời xa được chữ nghĩa đâu” , tôi vẫn thấy một nhu cầu viết một cái gì đó thi tâm mới yên. Đâu còn hứng khởi viết về văn học Phương Tây nữa; bây giờ tôi thấy việc đó như một món hàng xa-xỉ. Hoàn cảnh chính trị, xã hội trong nước những năm 1950 -1960 cả Bắc lẫn Nam đều có những biến chuyển lớn. Những tin tức về cuộc cải cách ruộng đất , phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc với bao nhiêu trí thức tài ba bị thanh trừng trong đó có người đàn anh trong môn triết học về nước năm 1951 làm tôi muốn viết những bài báo theo sát thực tế; cộng với việc sưu tầm tài liệu về cái chết của anh tôi càng ngày càng sáng tỏ thúc đẩy tôi viết về một giai đoạn lịch sử dẫn đến sự chấm dứt chế độ thực dân Pháp và sự thiết lập chế độ cộng sản trên một phần đất nước ở miền Bắc.
Tôi ngỏ ý này với Ngọc Viên, nàng nói:”Em từng nói em tôn trọng sở thích của mình, chỉ nhắc mình đừng quá mất sức, vì có phải mình viết vì sinh kế đâu.Em biết viết văn còn khổ cực hơn làm lao động tay chân nữa. Em đã mướn một bà giỏi giang việc nhà cửa bếp núc, nên em rảnh rang chỉ lo cứa hàng thôi”.
Tôi cám ơn nàng. Ban đêm, sau khi đóng cửa tiệm, tôi bắt đầu viết về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, lấy bút danh khác nhau gởi các báo. Trong không khí văn hóa văn học miền Nam quyền tự do ngôn luận được tôn trọng nên loạt bài của tôi được một một số độc giả khuyến khích. Họ yêu cầu tôi viết về từng tác giả, văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, ký giă, học giả... Ôi thật là hào hứng, tôi cứ thảnh thơi tìm tài liệu , vì Ngọc Viên luôn luôn nhắc nhở đi ngủ khi tôi thức quá khuya, có phải anh viết vì sinh kế đâu.
Hóa ra những bài viết về một phong trào văn nghệ lại đụng chạm sâu xa đến cả một chế độ chính trị. Có lần trên một tờ báo có vẻ thiên tả xuất hiện một bài phê bình gay gắt kết án tác giả “tôi” là có tư tưởng phục vụ đế quốc tư bản. Tôi dùng bút hiệu giả nên họ chẳng biết tôi là ai, hơn nữa tôi chẳng có danh tiếng gì trên văn đàn như bao nhiêu vị danh tiếng khác.
Tôi không trả lời bài báo, vì thấy trình độ kiến thức và lý luận của người viết chỉ ở lớp mười. Nhớ hồi dạy học bên Pháp, học trò lớp 12 của tôi đã vững vàng lắm. Tuy nhiên, có lẽ tác giả bài báo kia là một người thân cộng bị bắt hay sao mà sau đó không thấy xuất hiện nữa, rồi tờ báo cũng đóng cửa luôn. Tôi không kể cho Ngọc Viên biết, e rằng nàng lo lắng.
Sau vụ việc này, tôi vẫn tiếp tục viết về hết các tác giả trong phong trào Nhân Văn, nhưng không cho đăng báo, chỉ để thỏa mãn nhu cầu viết mà thôi. Tôi không muốn mua phiền não vô ích vì một chút hư danh.Lòng tôi thảnh thơi; trong ba năm tôi đã có một cuốn sách dày có thể in ra tới mấy trăm trang. Khi Ngọc Viên biết tôi chỉ viết như một trò giải trí thì nàng mừng lắm; nàng nói em là phụ nữ lại học ít nhưng em biết chữ nghĩa nhiều khi đem đến tai họa, anh không đăng báo nữa thì em yên tâm, không bắt anh đi ngủ sớm nữa.
Nhưng cuốn sách chính mà tôi muốn viết là về những thủ phạm nào đã giết anh tôi; tạm lấy nhan đề “CÁO TRẠNG CỦA MỘT BÀ MẸ CÓ CON BỊ GIẾT TRONG CHIẾN TRANH ”, chỉ bàn về cái chết của anh tôi mà thôi. Đã kiếm khá đủ tài liệu, tôi thận trọng bắt đầu viết chương một, nhưng tôi biết viết chỉ để cho lòng mình an thôi, chứ thật ra chả có ai thèm đọc; mà có tòa án nào xét sử được?
Biết bao nhiêu tinh hoa đã chết oan trong những đợt thanh trừng chính trị, có ai được tòa án nào xử đâu? Những cuốn sử dày ngàn trang chỉ liệt kê nhứng con số lạnh lùng.
Chỉ còn nỗi đau âm thầm của hàng triệu người mẹ, người vợ trong đó có cha mẹ tôi.
Những năm 1960, bao nhiêu biến động chính trị xã hội xảy ra; chiến tranh Nam Bắc càng ngày càng khốc liệt; người Mỹ đã tham dự sâu vào chiến tranh, tôi lại có thêm nhiều dữ kiện mới làm phong phú thêm cho cuốn sách. Lâu lâu tôi tung lên báo một bài phê phán chiến tranh giết hại bao thanh niên thế hệ mới của cả hai dân tộc Việt Mỹ, vì trong lòng tôi luôn nghĩ đến cái chết của anh cả tôi giữa tuổi thanh xuân; những thủ phạm sát nhân vẫn còn đấy không bị tòa án nào trừng phạt. Nhớ lại tòa án Nuremberg năm 1945 xử những tội phạm chiến tranh của thế chiến thứ hai. Hồi đó chỉ có mấy triệu người Do Thái chết dưới thời Đức Quốc Xã, nhưng ngày nay có cả chục triệu mạng người chết oan vì những lý tưởng mơ hồ, trong đó có anh tôi.
Khi con trai tôi vừa đậu xong tú tài, hai vợ chồng tôi lo ngay cho cháu sang Nhật du học tự túc. Nuôi con mới biết lòng cha mẹ; cứ nghĩ tới nỗi đau của cha mẹ tôi về cái chết của anh cả là tôi phải quyết định cho con trai mình ra khỏi cái vòng u minh này.
PHẦN II:
SÓNG CỒN
Sở dĩ tôi quyết định cho con trai du học vì tôi theo sát diễn biến tình hình chính trị và quân sự đất nước từ sau trận Tết Mậu Thân và chính sách mới của người Mỹ muốn rút lui khỏi cuộc chiến. Tôi nhớ lại thời trước, nước Pháp cũng muốn rút lui như thế khi thấy sắp thất bại. Cùng một chiêu trò “Rút lui trong danh dự”.
Nếu chính dân Việt không nắm đuọc quyền quyết định vận mệnh của mình thì các chính phủ Quốc Gia Việt Nam thời Pháp và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thời nay đối với Mỹ chỉ là những công cụ bình phong mà thôi. Họ phủi tay khi họ thất bại.
Những phong trào kháng chiến quốc gia chống thực dân Pháp xưa kia nhờ ngoại bang giúp đều bị ngoại bang phản bội như Nhật Bản, Trung Hoa Dân Quốc. Tôi nghĩ nước mình chỉ là nơi tiêu thụ súng đạn của những nước mạnh mà thôi. Tôi không thể ném con trai tôi vào một lò sát sinh như thế. Tôi đã thấy nỗi đau của mẹ tôi, giờ đây tôi không muốn thấy nỗi đau của vợ tôi .
Sau khi con trai xuất ngoại vào tháng ba 1973, cha tôi xét tình hình chung, khuyên tôi nên lên bộ Kinh Tế hủy bỏ môn bài buôn bán, vì ông rút kinh nghiệm năm 1954, cửa hàng buôn bán to sẽ bị đánh tư sản. Tôi gỡ bảng hiệu, bán rẻ hết vật liệu, mở cửa hiệu bán tạp hóa nhỏ.
Cuối năm 1974, bác Hiền vốn có kiến thức rộng sang mật bàn với cha mẹ tôi là hai bác sẽ tìm cách bỏ nước ra đi vì chắc chắn biến cố 1954 sẽ tái diễn. Cha tôi nói:
-“Tôi cũng nghĩ như anh, nhưng vợ chồng tôi không thể ra đi được vì nhất quyết phải ra Bắc tìm hài cốt của cháu lớn; chỉ nhờ anh chị mang theo hai mẹ con Ngọc Viên Ngọc Vân; chồng nó sẽ đi sau”
Bác Hiền và cha tôi không có bằng cấp học vị gì nhưng các cụ nhìn đời nhạy bén tinh tế lắm. Bản thân tôi cứ vùi đầu đọc báo nghe đài, kiến thức đầy đầu mà quyết định thực tế thì chậm chạp. Đó có phải là cái bệnh trí thức không?
Quả nhiên thảm kịch 30 tháng Tư xảy ra; may quá, vợ con tôi đều thoát trước qua Mỹ an toàn. Nhà tôi chỉ buôn bán tạp hóa nhỏ nên không bị coi là tư sản mại bản. Tôi thầm phục cha.
oOo
Vợ và hai con tôi đã an ổn sinh sống học hành trong hai xã hội văn minh, lòng tôi nhẹ nhàng thảnh thơi, hàng ngay phụng dưỡng cha mẹ già tận tụy, chờ dịp thuân tiện về Bắc Nhưng mỗi khi nhớ lại lúc chia tay tôi không khỏi ngậm ngùi. Ngọc Viên gục đầu vào vai tôi thổn thức: “Mẹ con em đi để lại mình cô quạnh em không nỡ rời chân; nhưng vì tương lai các con chúng ta tạm xa nhau; em tin tưởng gia đình mình sẽ đoàn tụ sớm. Trong những năm sống bên nhau em có lỗi lầm gì xin mình tha thứ hết cho em nha thì lòng em mới an ổn ra đi ”
Tôi ôm chặt nàng an ủi: “Em đừng nghĩ ngợi nhiều, chúng mình đã sống với nhau rất hạnh phúc mà”. Thật ra, nàng là một bà nội tướng quán xuyến mọi việc trong nhà, giống như một nữ vương chuyên chính toàn trị; cái gì không hợp ý nàng đều là sai. Chẳng hạn có lần nàng bảo tôi sắp xếp các mặt hàng cho tươm tất; tôi đã xếp theo ba tiêu chuẩn: gọn gàng, mỹ thuật, thương mại tức là làm cho khách hàng chú ý đến. Buổi chiều mới làm xong, mệt, tối ngủ say cho đến sáng, thức dậy thấy mọi sự đổi khác; hóa ra sắp xếp của tôi không hợp ý nàng. Tôi nói: “Vậy mai mốt đừng bắt anh sắp xếp nữa nha, mất cả buổi chiều”. Nàng cười làm lành: “Thì em đã để mình ngủ say suốt đêm rồi”.
Thế mà thấm thoắt một năm qua đi. Tôi biết bao nhiêu người chế độ cũ đã bị dồn vào các trại tù, bao nhiêu những trí thức văn nghệ sĩ đã bị kết những bản án phi lý nặng nề. Tôi nghĩ bản thân mình chỉ sống bằng nghề buôn bán vặt nên không rơi vào vòng oan nghiệt. Nào ngờ một buổi sáng có một công an phường đến nhà mời tôi lên phường làm việc.
Viên cán bộ có vẻ từ miền Bắc vào mời tôi ngồi ghế đối diện: “Chúng tôi mời anh lên đây để làm sáng tỏ một vài chi tiết về lý lịch của anh. Yêu cầu anh phải thành thực”
Tôi đã đọc một số sách truyện về chế độ cộng sản, nên rất thận trọng từng lời nói: “Cuộc đời tôi không có gì phức tạp, chắc quí anh trước khi gọi tôi làm việc thì đã nắm hết rồi, xin mời anh cứ hỏi “
“Anh đang sống ở Pháp sung sướng sao tự nhiên lại về Viêt Nam, lại thường lên Trung Tâm Liên Lạc Văn Hóa Pháp, anh có hoạt động bí mật gì?”
“Nếu tôi có hoạt động bí mật gì thi quí anh có mạng lưới tình báo nhân dân đã biêt hêt rồi, tôi chỉ về nước để phụng dưỡng cha mẹ già”.
“Anh đậu bằng cấp cao tại sao về làm việc buôn bán, anh chỉ giả bộ buôn bán vì vẫn viết nhiều bài báo phê phán cách mạng một cách sâu cay. Anh là một thành phần trí thức tư sản rất nguy hiểm, nhất là anh chỉ để vợ con vượt biên, còn anh ở lại, ý đồ gì?”
Vậy ra họ đã truy ra tôi mang tên giả viêt về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm “Nếu quí anh đã biêt tôi là tác giả những bài viêt đó thì quí anh đã nắm rõ lý lịch của tôi, nhưng quí anh cứ truy tìm xem tôi có những hoạt động chính trị bí mật nào không? Tôi thành thực khai báo như thế không hề nói dối”.
“Anh bênh vực những tên phản động đầu sỏ của bọn NVGP mà anh nói không hoạt động chính trị à?.
“Tôi đã nói tôi không làm chính trị như giữ một chức vụ gì cho một chính quyền hay một tổ chức nào, tôi tự lực mưu sinh, không giống như anh làm cán bộ cho một tổ chức chính trị được trả lương. Tôi đã kiếm từng đồng nuôi thân, nuôi vợ con và cha mẹ già, tôi có lãnh lương của một tổ chức nào đâu mà bảo tôi làm chính trị? Tôi đã chán chữ nghĩa vô vị mà bỏ đi làm thợ hồ thợ xây, chả có hội đoàn tổ chức nào. Tôi thành thực khai báo không gì phải giấu-diếm”.
“Thôi được, anh về nhà có ba ngày để viết bản tự thuật từ lúc anh ở Pháp đã sinh hoạt liên lạc với ai”.
Trên đuòng về nhà, tôi nhớ có lần Ngọc Viên nói: “Em là phụ nữ lại học ít nhưng em biết chữ nghĩa nhiều khi mang đến tai họa”. Đúng, phụ nữ có những cái biết bằng cảm tính, không bằng lý luận. Tôi về tường thuật moị sự cho cha. Ông trầm ngâm lúc lâu: “Nếu họ để cả năm trời mới gọi con làm việc tức là họ đã có bản án rồi. Con nên tiêu hủy mọi tài liệu đã viết, họ có thể xét nhà. Cha mẹ sẽ không báo cho Ngọc Viên biết, để nó lo lắng vô ích. Cha đã không tiên liệu việc này; nếu hồi đó con đi theo gia đình bác Hiền thì đã yên chuyện”.
“Những bản thảo của con đã đưa vợ con mang đi hêt rồi; cha không nên nghĩ ngợi nhiều, cha mẹ già làm sao con bỏ đi được; việc đã xảy ra thì mình nương theo sóng mà bơi”,
“ Nhưng tuyệt đối con không được nói gì về anh con nha, coi như con là con duy nhất của cha mẹ”.
Viết tự thuật về đời mình ư? Đời mình đơn giản, nhạt nhẽo có cái quái gì để viết; họa chăng nửa năm có chút tình cảm lãng mạn với cô bạn văn chương Sơn Thảo, một tâm hồn trong vắt như pha-lê. Anh cán bộ nói mình phải khai đã liên lạc với ai trong thời gian ở Pháp; thôi thì nàng đang ở Pháp, nhắc tới chắc cũng không liên lụy gì tới nàng.
Viết xong một trang đi ngủ, ai ngờ nửa đêm có tiếng đập cửa. Mẹ rơm rớm nước mắt, nhưng cha bình thản mở cửa. Hai cán binh cầm súng dài hộ vệ một sĩ quan đọc lênh bắt tên Lê Vinh.
oOo
Tôi bị nhốt trong khám Chí Hòa, trong một phòng hẹp có chừng ba chục tù nhân, tôi chẳng quen ai. Một tháng qua đi , dần dần tôi mới biết phần lớn tù nhân thuộc thành phần trí thức văn nghệ sĩ chế độ cũ; tôi không dám nói chuyện với họ vì sợ bị gài bẫy. Bât ngờ ai có hỏi tôi bị bắt vì tội gì, tôi nói làm thợ hồ thợ xây nghe người ta rủ đi vượt biên bị bắt.
Có nhiều người ở lâu được thân nhân thăm nuôi, còn tôi ba tháng chỉ ăn cơm tù. Có một chú bé chừng mười lăm mon -men đến hỏi “Chú ăn uống cực khổ quá, cháu có nhiều đồ ăn ngoài, cháu chia cho chú nhá”.
“Chú cực khổ quen rồi, mà sao cháu bé tí mà đã ở tù? Chắc cha mẹ cháu lo buồn lắm”
Chú bé cười vô tư: “Cháu có cha mẹ gì đâu, cháu ở trại mồ côi từ nhỏ, lớn lên thấy bó buộc quá rủ mấy bạn trốn ra ngoài tim kế sinh nhai riêng; đứa đi bán thuốc lá, đứa bán cà rem... cháu xin được một chân khuân vác trong một tiệm bán bình hoa. Cách đây nửa năm cháu lỡ tay làm bể một cái lục bình, sợ quá bỏ chạy; bà chủ hô hoán lên cháu ăn căp thế là công an nhốt cháu vào đây tạm một thời gian để chuyển vào trại tù thiếu niên phạm pháp. Các bạn cháu có tình lắm, thay nhau mang đồ ăn cho cháu, chú đừng ngại”
Tôi thấy tim mình nhói lên, liên tưởng đến nhân vật Jean Valjean trong tiểu thuyết “Những Kẻ Khốn Cùng” (Les Mỉserables—The Mỉserable Ones) của văn hào Victor Hugo; ông ta chỉ ăn cắp một ổ bánh mì để nuôi bảy đứa con của bà chị đang đói , mà bị án năm năm tù rồi sau đó suốt đời bị truy đuổi như một trọng phạm.
Thấy tôi thừ người suy nghĩ, chú bé dúi vào tay tôi một nửa ổ bánh mi kẹp thịt.
Tháng sau cha mẹ tôi vào thăm. Mẹ không khóc, chỉ nhìn tôi chăm-chăm tuồng như không muốn mất thêm đứa con; tôi xót-xa nghĩ mình có tội với cha mẹ vì cái thói ham viết lách; mình khổ là do mình tạo ra nhưng lại làm liên lụy đến cha mẹ già. Cha tôi bình thản như không có gì quan trọng, quay đầu quan sát chung quanh nói nhỏ:”Con yên tâm, đàn em của cha làm lớn sẽ lo cho con”.
Tôi trở về phòng chia đồ ăn cho chú bé; chúng tôi trở thành đôi bạn nương tựa nhau. Có lần chú bé thì thầm: “Cháu đi bán báo mấy năm, cháu quen nhiều ông nhà báo nhà văn, cháu biêt ơn các ông ấy lắm, vì nhờ mấy ông viết nên mới có báo bán; nhiều khi chạy mệt vào công viên ngồi nghỉ đọc hết tờ này qua tờ nọ thấy mê; nhưng đó là trước khi mấy ông ở rừng về cơ, còn sau thì báo đọc chán chết, chẳng ma nào mua, cháu bỏ nghề bán báo luôn”.
Tôi thầm nghĩ chú bé này hóa ra có kiến thức, không biết có bao giờ chú ấy đọc loạt bài của mình về Nhân Văn Giai Phẩm không?
“Thế cháu có quen vị nhà văn nhà báo nào đang bị tù trong này không?
“Cháu biết gần hết câc vị ấy, nhưng cháu nói nhỏ với chú nhá, có một người mà các bác khác cho cháu biết hắn là tay nằm vùng đấy, chú đừng bắt chuyện với hắn nhá”
Đúng là thằng bé lõi đời, nó mới mười lăm mà như một ông già.
“Thế hồi ở Viện mồ côi cháu học lớp mấy?” Dạ lớp tám; viện cho đi học trường ngoài, nhưng chúng cháu bị bọn cùng lớp có cha mẹ khinh bỉ đứa mồ côi, nên bốn năm đứa chúng cháu trốn ra ngoài đời tự muu sinh; cực hơn nhưng vui hơn vì tự do hơn”
“Đêm về ngủ đâu? “Chúng cháu là những kẻ không gia đình không nhà cửa, đêm về tụ lại ngủ trong sân chùa hay bến xe buýt”
"Cháu có thích học lên nữa không? “Cháu thích môn toán, nhưng chắc cả đời chả được học nữa”.
Tự nhiên nước mắt tôi tràn mi, tôi ôm lấy chú bé: “Cháu bé ơi, nếu mai mốt ngoài đời chú cháu gặp nhau mà chú muốn nuôi cháu đi học lại thì cháu chịu không?”
Chú bé tỏ vẻ ngạc nhiên: “Dạ nếu chú nuôi cháu ăn học thì cháu gọi chú là...bố nuôinha...nhưng biết khi nào chú ra tù, cháu biết có cả trăm ngàn người bị bắt đi tù tận ngoài Bắckhông biêt khi nào trở về”.
“Đây là địa chỉ của chú, nếu có duyên may về được thì cháu gởi thư cho chú, nhớ nằm lòng địa chỉ này nha”.
oOo
Ba tuần sau, trước kỳ thăm nuôi tập thể, tôi bỗng được goi ra gặp thân nhân, lòng hồi hộp không biêt tin lành hay tin dữ. Trong phòng đã từng có tù nhân bỗng được gọi đi và không bao giờ trở lại.
Phòng thăm trống trơn, chỉ một người phụ nữ ngồi bơ-vơ ở một bàn dài. Nàng khoảng ngoài bốn mươi, khuôn mặt trái xoan, áo dài màu vàng mỡ gà. Một hình ảnh quen quen.
“Anh nhận ra em không? Hơn hai mươi năm rồi”
“Ô, đúng là em rồi, Sơn Thảo phải không?
Mặc dù nét thiếu phụ, nhưng khuôn mặt và giọng nói của nàng hầu như không thay đổi.
“Sao em biết được anh ở đây? Lặn lội từ tuốt bên Paris”
“Câu chuyện hơi dài”
Nàng kể khi nghe anh báo phải về quê mà không cho nàng gặp mặt thì nàng giận anh lắm. Lúc ấy chiến tranh đã hết, nhưng mẹ không cho nàng về Viêt Nam vì bà giận chồng đã bí mật theo cộng sản từ lâu; ông bác sĩ đã bỏ Sài Gòn, ra ngoài Bắc làm việc trong một bệnh viện ở Hà Nội, viết thư bảo bà mang con Thảo về quê đoàn tụ, nhưng bà nhất quyết từ bỏ ông.
Nàng không biết gia đình anh có vào Nam không nên đành ở lại Pháp học tiếp lên bậc Cao Học Văn Chương, tính sẽ xin vào Bộ Ngoại Giao làm việc hy vọng có ngày đến Tòa Đại Sứ Pháp tại Hà Nội, nhờ tìm anh.
Sự đời rắc-rối, năm 1956 nàng lập gia đình với một người bạn thời trung học làm dược sĩ đứng chủ một tiệm thuốc tây, đời sống vật chất khá giả, sanh được một con gái, nhưng chỉ ít lâu sau hai người ly dị vi không hợp cách sống; nàng đã sống độc thân nuôi con gần mười năm nay rồi.
Năm 1970, đột nhiên ông bác sĩ xuất hiện ở Paris, quỳ xuống xin mẹ tha tội đã mù quáng theo cộng sản, bây giờ vỡ mộng. Mẹ tha thứ cho ông, gia dình đoàn tụ, nàng vui; nghe bố kể chuyện về đời sống trong chế độ cộng sản, nàng quyết định không về miền Bắc mà sẽ về miền Nam.
Nàng nghiên cứu về PHONG TRÀO NHÂN VĂN GIAI PHÂM kết hợp với lời kể thực tế của bố, nàng chợt nhớ thời còn sinh viên hàng tuần nói chuyện với anh, anh thường nhắc đến tác phẩm của văn hào Andre Gide, cuốn RETOUR DE L’ URSS ( RETURN FROM THE USSR—TRỞ VỀ TỪ LIÊN XÔ). Nàng suy đoán gia đình anh hẳn là giầu có mới cho anh du học nên chắc chắn không thể sống trong chế độ cộng sản được, mà anh lại là một trí thức tỉnh táo, thì hẳn gia đình anh đã di cư vào Sai Gòn. Đó là vào thời điểm từ 1972 trở đi, chiến tranh khốc liệt lắm, mẹ nàng không cho nàng đi.
Mãi cả năm sau ngày 30 tháng 4,1975 mẹ nàng dò dẫm tình hình quê hương trong chế độ cộng sản, thấy họ hàng ở Sài Gòn phần lớn đã vượt biên, căn nhà xưa của ông bác sĩ cũng đã bị sung công, bà nhất định không cho nàng về vì nhiều bất an. Nàng tính sẽ đi bằng công vụ ngoại giao thì an toàn hơn. Tình cờ, tìm lại địa chỉ của người bạn thân thời Marie Curie tên Thúy Liễu, nàng thử viết thư về; hai tuần sau Thúy Liễu hồi âm nói rất mừng biết tin Sơn Thảo sau bao năm xa cách, Thúy Liễu đã có chồng sanh hai con hiện làm việc tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp tại Sài gòn (đổi tên thành Thành Phố HCM). Sơn Thảo mừng rỡ, viết ngay cho Thúy Liễu nhờ dò tìm một người bạn tên Lê Vinh từng du học Pháp năm 1944, về nước sau 1954.
Thúy Liễu kể, khoảng năm 1965-66, nàng làm trong ban Giao Tế Xã Hội, thường tổ chức những buổi hội thảo cho những người nói tiếng Pháp thích văn học Pháp, thí dụ như những học sinh trường Pháp, những sinh viên ban văn chương Pháp ở Đại Học Văn Khoa Sài gòn. Có một người khoảng ngoài bốn mươi xin phép vào đọc những tạp chí mới từ Pháp gởi qua, ông ta nói tiếng Pháp chuẩn lắm. Hàng tuần ông đến đều đặn, đọc và ghi chép cẩn thận . Khi ông ấy mượn sách mang về nhà thì mới biết tên ông ta là Lê Vinh. Được một tháng nàng làm quen mới biết ông ta từng du học bên Pháp đã đậu bằng Cao Học Văn Chương, bỏ dạy học về buôn bán vật liệu kiến trúc, nhưng muốn dượt tiếng Pháp cho khỏi quên nên tìm đến đây. Nàng mời ông hàng tháng đến dự nhứng buổi mạn đàm về mọi đề tài vừa để dượt nói tiếng Pháp vừa để giúp nhiều sinh viên muốn học hỏi thêm. Ông ấy tỏ vẻ vui mừng có môi trường ôn tập nên nhận lời. Thúy Liễu đề nghị ông ấy thuyết trình về văn học Pháp; hóa ra đó là sở trường hồi trẻ của ông. Từ đó ông ấy trở thành một diễn giả chuyên về văn học Pháp, được sinh viên yêu mến. Hai người trở thành bạn, ông ấy mời nàng về nhà giới thiệu cha mẹ vợ và hai con; cô vợ xinh xắn đảm đang cùng chồng trông coi cửa hàng; hai người phụ nữ cũng trở thành bạn luôn. Nhưng từ 1973 thì ông ấy không tới nữa.
Sơn Thảo đọc thư tưởng như một câu chuyện thần tiên, không ngờ anh Lê Vinh lại là bạn của Thúy Liễu. Nàng bèn xin Bộ Ngoại Giao cho nàng một công vụ đặc biệt qua tòa Lãnh Sự tại Sài gòn.
Nàng phải lên phường khai tạm trú tại nhà Thúy Liễu. Vài ngày sau công an phường mời lên làm việc. Viên cán bộ mặc thường phục nói giọng Bắc:
“Xin lỗi đã làm phiền cô, chỉ xin cô vài phút. Cô có bao giờ quen biết người này không?”
Ông ta đưa một tấm hình phía dưới đề tên Lê Vinh.
Nàng choáng người nhưng giữ bình tĩnh: “Vâng ông ấy là bạn tôi hồi còn ở bên Pháp, ông ấy dạy học tại một trường tỉnh lẻ, tôi còn là sinh viên mới du học, chúng tôi là bạn hàng tuần gặp nhau nói chuyện học hành thôi”.
“Cám ơn cô, chúng tôi chỉ cần biết thế, xin tiễn cô”
Nàng không đứng dậy mà hỏi gặng: “Nhưng tôi chưa biết lý do nào quí ông gọi tôi lên đây?
“Chúng tôi chỉ muốn xác nhận thêm lý lịch của ông ấy thôi, xin mời cô”.
Nàng về kể cho Thúy Liễu nghe. Thúy Liễu giật mình: “Vậy coi chừng anh ấy có chuyện rồi, chúng mình đi ngay lại nhà anh ấy hỏi xem sao, đời sống hiện nay bất an lắm, cả xã hội như một mạng lưỡi công an dày đặc, hầu như ai cũng có thể bị bắt bất cứ lúc nào; chính gia đình mình đã tính ra đi nhưng kẹt vài chuyện nên nấn-ná đến hôm nay, vì thế mới gặp được bạn cũ”
“Em và Thúy Liễu thử tìm đên nhà cũ thì thấy bảng hiệu Lê Phát đã gỡ bỏ, chỉ còn cửa hàng bán tạp hóa, có hai cụ già trông coi. Thúy LIễu giới thiệu em với hai cụ; cụ bà hầu như muốn khóc; cụ ông bình tĩnh kể hết mọi chuyện, em nóng lòng quá muốn vào thăm anh ngaynhưng chưa đên kỳ thăm nuôi. May được Lãnh Sự Quán giúp nên em được đặc biệt thăm anh hôm nay. Em đã xin phép hai cụ và viết thư xin chị Ngọc Viên cho phép em gặp anh”
“Anh không thể tưởng tượng có thể gặp em trong hoàn cảnh này. Anh xin lỗi em vì mấy tháng trước, khi bị công an thẩm vấn hỏi đã liên lạc với ai hồi ở Pháp, anh khai hàng tuần gặp em nói chuyện học hành thơ văn; không ngở họ lại làm phiền em”.
“Thì em cũng nói với họ chúng tôi chỉ bàn chuyện văn chương cho vui; em nghĩ họ đa nghi, chủ trương thà bắt lầm còn hơn thả lầm, em tính sẽ tường trình việc này cho ông Lãnh Sự, biết đâu ông giúp làm sáng tỏ với họ để thả anh ra sớm”.
“Cám ơn em, thế...bây giờ hết giận anh rồi hả”
“Hết giận vì nghĩ lại chúng mình có giao ước gì với nhau đâu; nhưng em chả hiểu nổi anh, lẽ ra anh có thể học lên ban tiến sĩ mà lại bỏ hết chữ nghĩa về đi buôn”.
Tôi kể sơ về tình trạng gia đình, nhưng không nói gì về việc anh cả. Tôi nghĩ nhân dịp này nên nói sự thực cho nàng hiểu: “
“Cha mẹ anh xuất thân là công nhân nghèo, nhờ buôn bán mà trở nên giàucó, anh biết gia đình em thuộc tầng lớp thuợng lưu nên anh không dám với cao; em có thể chấp nhận anh nhưng gia đình và họ hàng phản đối thì lỡ dở cho cả hai, nên anh quyết định xa em thôi”
Nhân viên anh ninh ra hiệu hết giờ , nàng nói: “Em còn ở đây cả năm, sẽ vào thăm anh đều”
Tôi vào giao giỏ đồ cho chú bé: “Cháu muốn ăn gì cứ lấy, và giúp chú phân phát cho quí vị văn nghệ sĩ”
Chú bé kêu lên: “Ối chà, toàn đồ Tây, chắc là một bà đầm từ Pháp qua rồi. Cháu đã thầm đoán từ lâu, trông chú chả có vẻ gì là thợ hồ thợ xây”.
Nhiều lần gặp sau, nàng đi cùng Thúy Liễu, tôi đỡ buồn phiền vì không phải nhìn cha mẹ già lận-đận đi về.
Khoảng nửa năm, vào buổi trưa một cán bộ vào đọc lệnh: “Nguyễn Văn Khiết, mang hết quần áo ra”. Chú bé ôm chầm lấy tôi khóc òa: “Bố nuôi ơi, con đi nhá, bố cố giữ sưc khỏe, sau này khi bố nhận được thư con thì bố con mình sẽ đoàn tụ”.
Tôi cũng không cầm được nước mắt ôm chặt chú bé: “Ờ con đi, nhất định bố con mình sẽ gặp lại nhau”.
Khi Sơn Thảo sắp về Pháp, nàng và Thúy Liễu đến nói lời tạm biệt: “Chúng em rất buồn phải xa anh rồi, vì Thúy Liễu cũng có giấy bảo lãnh qua định cư tại Pháp . Chúng em rất thương hai cụ, nhưng chả biết làm sao, chỉ còn biết cầu nguyện cho anh sớm ra tù”.
PHẦN III:
NIỀM AN ỦI CỦA MẸ
Một số lớn văn nghệ sĩ đã ra đi, vào nhiều trại tù khác nhau, còn lại một vài cụ già bệnh hoạn; nghe phong- phanh có cụ bệnh nặng được tha nhưng về nhà là chết. Thế giới chữ nghĩa văn nghệ biến mất dần trong phòng tù, cũng có nghĩa là tan biến trong cả miền Nam. Mặc dù trong thời gian qua tôi không bao giờ nói chuyện với bất cứ vị nào nhưng tôi luôn luôn cảm thấy cùng trong một bầu khí thân ái với họ.
Bây giờ nhiều tù mới vào hỗn tạp, tôi có cảm giác bị ném vào một đầm lầy. Nếu bé Khiết còn bên tôi thì có lẽ tôi đỡ trơ trọi hơn. Sơn Thảo, Thúy Liễu cũng rời bỏ tôi rồi. Mỗi lần cha mẹ vào thăm là lòng mình quặn đau; một thằng thanh niên bất hiếu, bất lực, bất tài phải sống dựa vào cụ già. Không biết nỗi phẫn uất trong tôi có giống như các nạn nhân trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm ngày xưa không? Có lẽ cả một chiến lược thâm độc nhằm triệt tiêu mọi tinh hoa dân tộc đã và đang triển khai càng ngày càng tinh vi và toàn diện. Mọi tư tưởng sáng tạo độc lập bị diệt từ mầm mống. Cả một dân tộc sẽ biến chủng thành loài vẹt.
Đầu năm 1978 trước Tết Âm Lịch vài ngày, tôi được gọi lên văn phòng làm việc. Viên cán bộ lịch sự mời tôi ngồi ghế đối diện: “Trong thời gian qua anh giữ nội quy tốt, ban giám đốc xét cho anh về với gia đình xã hội, nhưng anh sẽ bị quản chế ở phường khóm một thời gian, chấp hành luật pháp nghiêm sẽ được trả quyền công dân, anh về phòng lấy quần áo “
Tính ra tôi ở tù gần hai năm, nếu tôi ghi lại từng giờ từng ngày những tâm tình, sự việc thì có lẽ được một cuốn truyện mấy trăm trang.
Mẹ tôi ôm tôi khóc như không hết nước mắt; cha tôi viết thư ngay cho Ngọc Viên báo tin mừng. Cha nói: “Ngày xưa ở Hà Nội cha làm quản lý cho một công ty xây dựng, dưới tay có nhiều thợ giỏi, sau này nhiều người làm chức lớn, khi biết con bị tù họ tích cực giúp cha chạy chỗ này chỗ nọ nhưng họ không dám đứng ra bảo lãnh vì họ sợ mất chức; ngay cả có vài ông lớn mà con ruột bị tù cải tạo cũng không dám bảo lãnh, chỉ khuyên con cố học tập tốt. Cuối cùng mới tuần trước một chú làm lớn trong Bộ Nội Vụ báo cho cha biết nhờ Lãnh Sự Quán Pháp sáu tháng trước đã gởi đơn tường trình về mọi hoạt động của Lê Vinh thuần túy chỉ là văn học không dính dáng gì đến chính trị nên có lẽ hồ sơ của cháu Lê Vinh được cứu xét cho về”.
Tôi kể cho cha nghe khi Sơn Thảo vào thăm con có nói sẽ nhờ Lãnh Sự Quán can thiệp, biết đâu nhờ vậy mà hồ sơ của con được giải quyết sớm. Tôi viết thư cám ơn Sơn Thảo và Thúy Liễu. Tôi tự cảm thấy mắc cỡ với chính mình, hóa ra “Nam Nhi” như mình mà suốt hai năm qua phải sống nhờ phụ nữ và lão nhân. Trong thư hồi âm của nàng tôi mơ hồ thấy ẩn chứa một tình cảm nồng nàn.
Tôi thay cha mẹ trông coi cửa hàng tạp hóa, hằng tuần lên Phường trình diện. Trong đầu tôi đầy ắp những ý tưởng cần phải viết ra nhưng không dám biên ra giấy, sợ nửa đêm bất ngờ họ vào kiểm tra thì khốn, đành phải “ngậm miệng gác bút” ; tuy nhiên tôi vẫn sắp đặt trong đầu từng chương sách .
Một buổi trưa đang ngồi bán hàng, một thanh niên khỏang ba mươi ăn mặc chỉnh tề vào tiệm hỏi mua một sấp phong bì rồi dè dặt hỏi: “ Thưa chú, cháu xin phép hỏi một câu được không ạ? “
Cậu ta nói giọng “Bắc kỳ 75” khiến tôi chột dạ, coi chừng “lại một công an nhân dân nữa”; hai năm tù ám ảnh tôi như một bóng ma tạo nên một thứ bản năng tự vệ.
Tôi lễ phép nói như một anh nhà quê ngày xưa lên trình quan huyện: “Dạ thưa anh, anh muốn hỏi việc gì ạ,?” . Cậu ta xua tay rối rít: “Ấy chết, thưa chú, cháu đáng tuổi con cháu chú mà, chú yên tâm, cháu chỉ muốn hỏi có phải tiệm này ngày xưa là tiêm bán vật liệu kiến trúc Lê Phát không ạ?”
Lại một lần nữa tôi choáng người, “họ lại điều tra gốc rễ”. Óc tôi biến báo thật nhanh: “Cụ chủ nhà này có lẽ hiểu việc hơn tôi, mời anh ngồi uống trà một tí, tôi mời cụ ra”.
Bàn trà kê ngay cửa, cậu ta ngồi xuống ghế đưa mắt quan sát chung quanh. Tôi đi vào vừa suy nghĩ cách ứng phó. Cha tôi nghe trình, nhẹ nhàng đi ra; ông cụ lúc nào trông cũng vững như bàn thạch.
“Chào cháu, bác là Lê Phát bán vật liệu kiến trúc từ mấy chục năm trước ngoài Hà Nội, nhưng bác đã bỏ nghề này từ năm 1973 rồi; chắc cháu là con cháu của khách hàng của bác ngày xưa chăng?”
Cậu ta đứng dậy chắp tay chào: “Thưa cụ không phải; cháu tên Nguyễn Văn Tiến, kỹ sư ngành xây dựng làm tại Sở Kinh Tế thành phố coi về việc nhập khẩu vật liệu kiến trúc, tình cờ lục lại hồ sơ cũ thấy tên hiệu Lê Phát đã xin hủy môn bài từ năm 1973. Mẹ cháu dặn khi nào thấy tên Lê Phát thì con phải hỏi kỹ xem có phải ngày xưa cụ mở tiệm ở Hà Nội và có người con trai tên Lê Huân không? Xin cụ yên tâm, việc này không dính gì tới công an cả, mẹ cháu nói chỉ là việc gia đình thôi”
Như một tiếng sét ngang tai, tôi sững người, Lê Huân là tên anh cả của tôi. Tôi thấy mặt cha tôi hơi biến sắc nhưng cụ bình tĩnh nói: “Vậy mẹ cháu đang ở đâu, bác mời bà tới nhà nói chuyện được không?”
“Mẹ cháu vốn là giáo viên câp hai đã nghỉ hưu, hiện sống tại quê nhà là tỉnh Hòa Bình. Nếu cụ cho phép cháu sẽ ra đón bà vào”.
Chàng thanh niên lễ phép cúi chào ra về. Tôi nói với cha: “Anh cả mất tích tại Hòa Bình mà người phụ nữ mẹ của cậu này sinh sống tại Hòa Bình, con nghĩ hai người có quan hệ gì với nhau”
“Nếu đúng vậy thì tổ tiên linh thiêng sẽ cho ta manh mối về anh của con”.
Tôi nghe tiếng mẹ sụt-sịt sau bức bình phong; hóa ra bà cụ ngồi trong nghe hết mọi chuyện.
Hai tuần sau tôi nhận được thư đề tên người gửi là bà Nguyễn thị Thuần Hạnh từ Hòa Bình xin hẹn đến thăm hai cụ vào cuối tháng.
Hằng đêm tôi ngồi tĩnh tâm nhẩm lại những tài liệu thu thập được liên quan đến sự mất tich của anh tôi; thời gian vào khoảng tháng 6 hay 7 năm 1946 tại Bến Chương, xã Hiền Lương, huyện Mai Đà tỉnh Hòa Bình, trong cuộc xung đột vũ trang giữa lực lượng Việt Minh và lực lượng đảng Duy Dân của đảng trưởng Lý Đông A. Kết cuộc là đảng trưởng mất tich và toàn bộ đảng viên bi tiêu diệt,
Tôi nóng lòng gặp bà Thuần Hạnh để xác minh tài liệu. Tôi đề ra giả thuyết: có thể bà ấy cùng hoạt động với anh cả tôi trong đảng Duy Dân; liên hệ giữa hai người có thể mật thiết nên bà ấy mới biết tên thực Lê Huân, vì trong hoạt động bí mật cán bộ nào cũng lấy tên giả, người con trai tên Nguyễn Văn Tiến có thể là con của người chồng họ Nguyễn.
Tôi trình bày ý kiến này cho cha, thì cha trầm ngâm một lúc lâu: “Trong thời buổi này, cha thấy giao thiệp với người lạ phải rất thận trọng, biết đâu là cái bẫy của chính quyền muốn tận diệt mọi nguồn gốc chống đối”.
Tôi cảm thấy lo-lắng: “Hay là cha chối phắt chả có con nào tên Lê Huân”.
“Không được con à, dù có gì xấu xảy ra bố mẹ không thể nào chối bỏ con cái mình đã sinh ra và nuôi nấng nên người; cha hãnh diện có người con như thế”.
“Giả dụ là cái bẫy thực thì con sẽ bị bắt lại, cha mẹ già sẽ chịu bao nhiêu khổ đau”
“Các cụ nhà ta đã chịu bao nhiêu khổ đau dưới thời thực dân, bây giờ tưởng là giành được độc lập thì con cháu được hạnh phúc, nào ngờ...”.
oOo
Ngày hẹn đã đến, tôi treo bảng đóng cửa tiệm, ăn mặc chỉnh tề ngồi chờ trước cửa.10 giờ sáng, hai chiếc xich lô chở hai người khách đậu lại. Cậu thanh niên hôm trước bước xuống chạy lại đỡ một phụ nữ trạc ngoài năm mươi mặc áo dài mầu nâu non quần thâm, tóc nhiều sợi bạc rủ vai, khuôn mặt thanh tú có dáng cô giáo.
Tôi mời khách vào phòng trong có cha mẹ tôi ngồi chờ ở bàn tròn thường dùng cho bữa cơm gia đình.
Cậu thanh niên cúi chào: “Kính chào hai cụ và chú, cháu là Nguyễn Văn Tiến tháng trước đã được gặp hai cụ ,đây là mẹ cháu tên Nguyễn thị Thuần Hạnh quê ở tinh Hòa Binh’
Cha tôi nói: “ Kính chào bà, chúng tôi rất hân hạnh được tiếp bà hôm nay; tôi là Lê Phát , xin giới thiệu nhà tôi tên Phạm Thị Mơ, con trai tôi tên Lê Vinh. Hôm trước cậu trai có nói bà muốn hỏi thăm về gia đình bán vật liệu kiến trúc ngày xưa ở Hà Nội trước 1954, vâng đúng vậy, nhưng sau Hiệp Định thì chúng tôi di cư vào Nam tiếp tục nghề cũ cho đến 1973...
Trong khi cha tôi nói, tôi kín đáo quan sát bà khách; tôi thấy mắt bà rưng rưng như có nước mắt, bà run run mở nắp cái ví tay rút ra một bao thư, mở bao thư lấy ra một tấm hình, miệng bà như mếu- máo lắp- bắp nói:
“Thưa cụ bà là Phạm Thị Mơ, và chú đây là Lê Vinh thế cụ có biết người thanh niên trong hình này là ai không?
Bà đưa ra cho mẹ tôi coi. Bỗng bà cụ thảng thốt kêu lên: “Ôi con trai tôi Lê Huân”
Tôi đỡ lấy tấm hình, đúng là anh cả của tôi chụp trước cửa trường Cao Đẳng Công Chánh lúc mới ra trường.
Tôi chưa kịp nói gì thì người phụ nữ bỗng quỳ xuống ôm lấy mẹ tôi thổn thức: “Mẹ ơi, con là con dâu của mẹ đây, còn cháu Tiến là cháu nội của ông bà”.
Tiến bước lại ôm tôi: “Chú là Lê Vinh em của bố cháu Lê Huân, mẹ cháu từng nói với cháu như vậy, mấy chục năm không ngờ gia đình đoàn tụ”
Tiến quỳ xuống ôm cha tôi: “Ông nội, mẹ cháu hằng ngày nhắc cháu phải tìm về nguồn cội, phải tìm được ông bà nội và chú Lê Vinh, bây giờ mẹ cháu mãn nguyện rồi”.
Chị dâu tôi lại rút từ ví ra một sấp giấy tờ đã vàng ố đưa cho tôi xem. Hóa ra là giấy khai sinh của anh cả, bằng tốt nghiệp Cao Đẳng Công Chánh, nhiều tấm hình chụp trong trường cùng các thầy giáo và các bạn học . Chị nói: “Khi còn đang hoạt động, anh giao cho chị tập giấy này dặn dò cẩn thận lỡ anh có mệnh hệ gì thì phải tìm gia đình anh mà trao lại và là bằng chứng em là vợ của anh mặc dù chúng ta không có điều kiện chính thúc làm lễ thành hôn”.
oOo
Chị dâu tôi xin phép hai cụ ngồi ghế và chậm rãi kể chuyện.
Thưa thầy mẹ và chú, con là Nguyễn Thị Thuần Hạnh, cùng tuổi và cùng học với anh Lê Huân thời trung học. Chúng con đã yêu nhau từ tuổi học trò; khi anh Huân vào trường Cao Đẳng Công Chánh thi con theo ngành giáo dục. Bố mẹ con sinh sống tại tỉnh Hòa Binh bao đời. Bố con làm nghế thợ mộc, mở tại nhà một cửa hàng bán đồ gỗ, bàn, ghế, tủ áo, tủ chén bát. Vườn trái cây rộng lắm ở phía sau. Khi con về quê dạy học tại trường tỉnh nhà năm 1944 nghe tin anh được gia đình cho du học bên Pháp học lên kỹ sư thì con buồn lắm vì anh đi mà không gặp con chào một tiếng. Con oán anh ấy đã phụ tình con rồi.
Nào ngờ một đêm sau ngày Nhật thua trận và Việt Minh nắm chính quyền vào tháng tám năm 1945, có tiếng gõ cửa, cả nhà sợ hãi, chỉ có bố con bình tĩnh ra mở cửa. Môt chàng thanh niên đội nón lá mặc quần áo nông dân bước vào theo sau bố.
Anh vừa giở nón lên thì con muốn kêu to vì mừng rỡ, đó là anh Huân, nhưng kịp bịt miệng lại. Bố vừa ra hiệu nói nhỏ vừa chỉ tay ra cửa coi chừng có ai rình rập; tim con đập mạnh. Em trai của con ra mở hé cửa quan sát chung quanh.
Bố nói nhỏ: “Bây giờ bố phải nói cho cả nhà biết để giữ mình trong thời buổi tranh sáng tranh tối. Hiện giờ người Nhật đâ thua trận, đầu hàng Mỹ Anh Nga rồi, nước ta chưa có chinh quyền nào để điều khiển quốc gia, ai cũng có thể bị bắt bởi bất cứ việc gì vì nhiều phe nhóm thù địch nhau. Bố theo truyền thống gia tộc tùy sức mình đóng góp vào sự tồn vong của dân tộc. Từ lâu bố đã bí mật hợp tác với thủ lãnh Lý Đông A vốn có họ hàng xa và vốn là đệ tử của cụ Phan Bội Châu xưa kia. Nhà mình dùng làm nơi liên lạc giữa các chiến sĩ chiến đấu cho dân tộc, vừa chống ngoại xâm Nhật Pháp Trung Hoa vừa chống Việt Minh vì họ theo chủ nghĩa cộng sản Nga Tầu. Tay sai của những thế lực đó nhan nhản khắp nơi nên chúng ta phải thận trọng canh chừng. Anh Lê Huân đây là một trong những cận vệ thân tín của thủ lãnh nhưng có mật danh là chú Chín...Các con chỉ đuọc gọi là chú Chin.
Nghe bố nói, con vừa sợ vừa mừng muốn lao vào vòng tay anh xin lỗi đã nghi oan anh. Con nói: “Em chờ anh cả năm nay, tưởng anh đã đi Pháp bỏ em rồi”
Cả nhà ngạc nhiên; anh giải thích vắn tắt: “Chúng con yêu nhau từ hồi trung học và cùng nguyện ước làm vợ chồng nhưng hoàn cảnh nước nhà bi đát quá, không lo việc riêng được.Thủ lãnh đang bị bọn Pháp và bọn Việt Minh truy lùng rất gắt, anh em Phục quốc Quân của cụ Phan bây giờ cũng tan tác chưa tập hợp lại đủ. Con ghé về đây cho em Thuần Hạnh an tâm, con phải đi ngay đêm nay bảo vệ thủ lãnh về căn cứ an toàn”
Anh cầm tay con siết chặt rồi đội nón lá rách cúi chào mọi người lách ra cửa biến mất vào bóng đêm.
Khoảng đầu tháng 9 năm 1945 quân Tàu Tưởng Giới Thạch kéo vào nước ta đông lắm; bố con nói họ được lệnh của Phe Đồng Minh vào tước vũ khí quân Nhặt, các đảng phái quốc gia về theo, có lẽ thủ lãnh cũng về để thiết lập nhiều căn cứ chiến đấu cả với Viêt Minh lẫn với người Pháp vì quân Pháp thể nào cũng trở lại. Bố con thở dài: “Nước mình bị dày xéo bởi ngoại bang , hết quân Tàu, đến quân Pháp, lại đên quân Nhật, rồi quân cộng sản theo Nga Tàu, những chiến sĩ kháng chiến quốc gia rất khốn đốn”.
Đầu tháng 5 năm1946, bỗng Chú Chín trở về: “Thưa bác tình hình rất căng thẳng, Tàu, Pháp và Viêt Minh đã cấu kết vơi nhau để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Quân Tàu sẽ rút về hết, bỏ rơi các đảng phái quốc gia, nhường cho Pháp quản lý mọi sự ở miền Bắc, và Pháp đứng yên cho Việt Minh tiêu diệt chúng ta. Thủ lãnh nói con sẽ ở đây một tháng xem động tĩnh thế nào”.
Chú Chín làm việc như một công nhân trong xưởng mộc của bố. Được một tuần, trong bữa cơm gia đình, bố nói: “Hai con yêu nhau trong đời ly loạn thật đáng thương, việc đời bất trắc, bố đã bàn với mẹ tác thành cho hai con nên vợ chồng . Tối nay chỉ có gia đình vào bàn thờ tổ tiên kín đáo làm lễ kính cáo tổ tiên”.
Chúng con lạy bàn thờ, lạy cha mẹ. Chúng con hưởng hạnh phúc vợ chồng được ba tuần thì anh có lệnh ra đi.
Cuối tháng 5 quân Tầu đần dần rút về hết; thế là sau đó suốt tháng 6 bố được tin dồn dập quân Việt Minh càn quét mọi căn cứ của mọi đảng phái quốc gia trong nhiều tỉnh. Rồi tiếng súng vang rền trong tỉnh Hòa Bình.
Mẹ cứ ngồi trước bàn thờ khấn vái; bố ngồi trầm ngâm uống trà suốt ngày. Gần cuối tháng sáu, khoảng mười giờ đêm, có tiếng gõ cửa theo mật mã; tim con thót lên khi bố vừa mở cửa, thì một thân hình đổ nhào xuống sàn nhà máu chảy lênh láng. Chồng con thều thào: “Căn cứ chính bị phá tan, thủ lãnh mất tích, con bị thương nặng, đồng đội chết gần hết”. Rồi chàng ngất đi.
Cả gia đình săn sóc tân tụy nhưng chỉ ba ngày sau thi anh qua đời. Bố nghiêm cấm mọi người không được khóc lóc, chỉ âm thầm làm tang lễ; bố chôn anh trong vườn, nhưng không đắp mộ e rằng có kẻ báo cáo.
Vài tuần sau con có dấu hiệu đậu thai; bố đã sắp xếp sẵn đưa con về Hà Nội nhờ cô em họ săn sóc cho đến khi hạ sinh cháu Tiến. Cô em họ phải nuôi cháu ba năm cho cứng cáp mới mang về cho con nhận làm con nuôi. Khi Tiến học xong trung học, ông ngoại dùng tiền chạy cho cháu du học qua Đông Đức đậu bẳng kỹ sư ngành xây dựng. Nhờ vậy khi cháu vao làm Sở Kinh Tế thành phố mới tình cờ tìm ra tên Lê Phát.
Nghe kể đến đây, mẹ tôi bỗng òa khóc, nước mắt dồn chứa mấy chục năm như ùa ra bất tận. Bà nức nở:”Chúng tôi xin tạ ơn ông bà đã chôn giữ hài cốt của cháu”
Cha tôi hỏi: “Thế hiện giờ ông bà ngoại vẫn còn ở Hòa Bình?”
“Dạ không, ông bà đã theo nhau qua đời hai năm rồi; nhưng ông ngoại cháu đã lo trước mọi việc chu đáo. Ông đã âm thầm bốc mộ chồng con, hỏa táng, đựng tro cốt trong một cái hũ dặn con sau này phải trao lại cho bên nội”.
Mẹ tôi bỗng quỳ xuống lạy con dâu: “Mẹ xin lạy con ba lạy, con đã chung thủy vỡi con trai của mẹ”.
Chị dâu tôi sợ hãi quỳ xuống nâng bà cụ đứng dậy. Tôi cảm thấy lòng nhẹ nhàng thảnh thơi, thế là người mẹ đã thu về lại huyết cốt của mình. Cha tôi ôm cháu nội trong lòng.
oOo
Chị dâu tôi ở nhà với cha mẹ một tháng, cháu Tiến không phải tạm thuê nhà nữa mà dọn về ở với ông bà; hạnh phúc nhãn tiền qua bao nhiêu khổ đau. Mẹ tôi như trẻ hẳn lại với người con dâu nết na hiền thục. Ngọc Viên viết thư về báo tin con gái Ngọc Vân cuối năm ra trường cử nhân ban kế toán, con trai Lê Vũ tuần tới qua Mỹ thăm mẹ, đem theo người yêu sắp làm lễ đính hôn, cũng là người Việt du học bên Nhật.
Tôi thấy hạnh phúc trần gian của tôi như vậy là quá đủ rồi, đòi hỏi gì nữa? Nhưng trong đáy sâu tâm hồn tôi vẫn thấy trống vắng một cái gì chưa lấp đầy được, một tác phẩm viết về tương quan giữa chính trị và văn nghệ. Qua những cuộc thanh trừng văn nghệ sĩ trí thức dưới thời Mao Trạch Đông, rôi qua cuộc đàn áp phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, tôi tự hỏi sao họ lại sợ văn nghệ đến thế; văn nghệ sĩ, trí thữc có lưỡi lê, súng đạn gì đâu? Bản thân tôi chỉ viết vài bài về những tác giả Nhân Văn Giai Phẩm mà đã lãnh án hai năm tù. Tôi chỉ là một thư sinh nghèo kiết, sao họ lại sợ tôi đến thế?
Nhớ lại câu chuyện của cụ Trần Trọng Kim kể lại trong cuốn Việt Nam Sử Lược về việc Thế Tổ Hoàng Đế Gia Long giết hại đệ nhất công thần Nguyễn Văn Thành. Ông Thành văn võ toàn tài, từ thời trẻ đã phò chúa Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn chịu bao nhiêu gian khổ, làm tới chức Tổng Trấn Bắc Hà, chức tổng tài coi việc làm sách luật và quốc sử. Con trai ông tên Nguyễn Văn Thuyên mới đậu cử nhân, thích văn thơ, muốn kết giao với hai văn sĩ đất Thanh Hóa , làm một bài thơ với hai câu kết có ý mong được hai vị phò tá để xoay chuyển cơ đồ; thế mà có kẻ tiểu nhân mách với quan trên tên Thuyên có ý đồ làm phản. Thuyên bị xử trảm còn phụ thân uống thuốc độc tự vẫn. Một đời công lao thành công cốc.
Cả quân chủ lẫn cộng sản đều sợ văn nghệ tự do. Hẳn là trong tâm khảm những người tự cho là lãnh đạo có một mặc cảm tự tôn mù quáng tự cho mình sở hữu chân lý duy nhất đúng không ai khác được quyền phản bác. Mặt trái của mặc cảm tự tôn đó là một mặc cảm tự ty tối tăm coi bạo lực là phương tiện duy nhất trấn áp kẻ đối thoại, không dám dùng lý luận. Đó là căn bệnh sợ đối thoại, một thứ ung thư nặng chứ không phải một thứ bệnh ngòai da, một thứ ung thư di căn từ chế độ quân chủ chuyên chế sang độc đảng chuyên chế.
Năm 1980 cha mẹ tôi theo nhau qua đời trong niềm hạnh phúc.
Tôi viết thư cho Ngọc Viên giục nàng làm hồ sơ bảo lãnh vì tôi càng ngày càng cảm thấy khó thở. Một mặt tôi dùng tiền lo lót để có quyền công dân và thẻ chứng minh nhân dân. Hai năm sau tôi được gọi lên phỏng vấn và chờ được cấp hộ chiếu xuất cảnh.
May sao trong khi chờ đợi, tôi nhận một lá thư mà vừa đọc tên người gởi, lòng tôi tràn ngập niềm vui: Nguyễn Văn Khiết:
“Bố nuôi ơi, bố còn ở nhà không, tuần sau con về với bố”.
Tôi áp lá thư vào ngực khóc như đứa trẻ. Cháu Tiến ngạc nhiên chạy vào hỏi có chuyện gì, tôi kể chuyện trong tù; nghe xong Tiến cũng rất xúc động: “Tội nghiệp em Khiết quá, cháu sẽ kèm học cho em và dạy dỗ nên người”. Tôi rất mừng.
Hóa ra Khiết ở trong trại thiếu niên phạm pháp một năm rồi được cho đi thanh niên xung phong hai năm làm thủy lợi ở nhiều vùng kinh tế mới. Trông cháu khỏe mạnh ra dáng một thanh niên cường tráng. Tôi súc tiến làm hồ sơ nhận con nuôi ngay để cháu vào hộ khẩu.
Tôi nói: “Bố con mình có duyên từ kiếp trước đấy, bởi vì nếu con về trễ thì bố đã xuất ngoại rôi”.
Cháu Khiết thay tôi trông coi cửa hàng rất tháo vát, vừa được anh Tiến kèm học.
oOo
Năm 1985 hai vợ chồng tôi đoàn tụ, hai con tôi đều có gia đình riêng. Đúng là mười năm ly tán đau khổ. Ngọc Viên nói: “ Khi nghe tin anh bị tù em muốn điên lên, tính về Viêt Nam chạy chọt, nhưng thày mẹ hết sức cản vì lỡ ra họ bắt cả em thì khốn. Nhưng sau nghe có cô Sơn Thảo và Thúy Liễu thay cha mẹ thăm nuôi thì em vừa mừng vừa lo”
“Ủa, sao mà lo?”
“ Lo anh sẽ theo cô Thảo đi Pháp thì sao?
“Ô. Làm sao anh phụ người vợ yêu dấu thủy chung của anh; vả lại ngày xưa em nói kể từ khi mình yêu nhau rồi thì cấm có cô nào khác được yêu anh đấy”
Như chim sổ lồng bay khắp bầu trời mênh mông, tôi vùi đầu đọc, viết, sách vở nhiều không kể xiết tha hồ mua về chất đầy tủ. Có khi ngồi trong tiệm sách Barnes & Noble vừa nhâm-nhi cà fe vừa đọc sách, nếu không thích thì trả lại. Ôi tuyệt vời quá, cả một kho kiến thức đa dạng, làm sao có thể tìm được trong một xã hội kín bưng, kín mít?
Sơn Thảo viết thư cho tôi: “Em và Thúy Liễu sẽ sắp xếp qua thăm anh chị. Từ một năm nay em cộng tác với một tạp chí văn học, phụ trách mục giới thiệu văn học thế giới, nhớ tới anh ngày xưa từng viết về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, quý lắm đấy, xin anh dịch ra Pháp ngữ gởi cho em đăng hàng tháng nhá, có nhuận bút xứng đáng”.
Thật là hào hứng, có khi thức quá nửa đêm đánh máy cho xong một bài, Ngọc Viên lại ôm cổ chồng thủ thỉ: “Thôi khuya rồi, có phải mình viết vì sinh kế đâu, mình nghĩ đến cô Sơn Thảo nhiều là quên em đấy”.
Nàng thật nũng -nịu , tôi buông bàn máy dìu nàng về phòng: “Không phải thế, anh cảm thấy hào hứng trong một không gian văn hóa rộng lớn như biển cả so với ao tù ở quê nhà”.
oOo
Cháu Tiến đều đặn cho tôi thông tin về bên nhà; cháu đã lập gia đình có hai con trai gái đang học trung học nhắm trong tương lai nhờ chú thím bảo lãnh qua Mỹ học đại học; chị dâu tôi đã già, bán nhà ở Hòa Bình vào sống với con cháu; tội nghiệp cho chị tôi một đời không được hưởng hạnh phúc lứa đôi như tôi và Ngọc Viên. Còn Khiết thì giỏi lắm; hắn được Tiến kèm cho thi vào học trường kỹ thuật Cao Thắng ban cơ khí, ra trường mở xưởng tiện kiếm nhiều tiền, lại sắp mua nhà riêng cưới vợ. Tháng nào hắn cũng viết thư thăm hỏi bố mẹ nuôi, luôn nhắc đến công ơn của bố xây dựng hắn nên người.
Thấm-thoắt mười mấy năm qua đi, thân tôi ở Mỹ mà hồn tôi lang thang trên những cánh đồng xanh bát ngát hai bên đường từ Sài gòn Chợ Lớn về Miền Tây thương yêu, Ngã Ba Trung Lương, Cai Lậy, Sa Đéc, Vĩnh Long, Bến Ninh Kiều....Rồi thì những hòn đá Định Quán, những quán trà Bảo Lộc....
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề
Năm 1997 lúc 67 tuổi, Ngọc Viên bỗng mắc bệnh lạ, người cứ gầy giộc đi, hai năm sau thì nàng qua đời năm 1999.
Đêm cuối cùng, nàng nắm tay tôi thổn thức: “Em đã sống trọn đời bên mình, hạnh phúc tròn đầy, em muốn chia sẻ hạnh phúc này với một người có ơn lớn cho hai chúng ta...Sơn Thảo, cô ấy đã cứu anh khỏi cảnh tù đầy khiến cho vợ chồng mình đoàn tụ. Mình hứa vơi em phải đối xử tốt với cô ấy, phải săn sóc cô ấy như đã săn sóc em”
“Nhưng ngày xưa em đã nói không cho cô nào được yêu anh mà”
“Bây giờ thì khác, em đã sống một đời mãn nguyện, là con ngoan, là vợ tốt, là mẹ hiền , là bà nội bà ngoại được các cháu yêu mến; em phải nhường phước cho cô ấy, cô ấy thiệt thòi nhiều, vì mình đã bỏ rơi cô ấy khi mà tình yêu chớm nở vào tuổi thanh xuân; hứa với em nhá, phải săn sóc cô ấy những năm tháng còn lại”
Nửa đêm đó nàng trút hơi thở cuối cùng. Tôi ôm nàng suốt đêm, khóc cạn nước mắt đẫm ướt hết tóc nàng.
Tang lễ vợ tôi có đầy đủ con cháu dâu rể, hai vợ chồng Tiến, hai vợ chồng Khiết từ Việt Nam qua, Sơn Thảo và Thúy Liễu từ Pháp qua.
Tôi mời hai cô ở lại Mỹ chơi một tháng vì cả hai đều đã về hưu, các cụ đều đã đi lâu rồi, mà chồng Thúy Liễu cũng đã mất hai năm trước . Chúng tôi là ba người bạn độc thân thật chí tình. Để cho khuây khỏa , tôi mua nhiều “tour” ngắn ngày đi chơi nhiều tiểu bang cho hai cô thăm viếng nhiều thắng cảnh độc đáo của mỗi tiểu bang.
oOo
Thế mà đã một năm vợ tôi qua đời, một tuần nữa là giỗ đầu của nàng. Chị dâu tôi năm nay đã bảy mươi tám tuổi sẽ đi cùng hai vợ chồng cháu Tiến và hai vợ chồng cháu Khiết từ Viêt Nam, gia đình con trai lớn về từ Nhật Bản, gia đình con gái về từ tiểu bang Texas. Căn nhà nhỏ nhưng ấm cúng, bàn thờ đơn giản nhưng trang nghiêm.
Chị dâu tôi là chủ gia đình nói: “Chị không bao giờ có thể ngờ có ngày được đặt chân lên xứ Mỹ văn minh thế này, lại được gặp đầy đủ các cháu nhân ngày giỗ cô Lê Vinh. Trước khi mất một năm cô Ngọc Viên đã gởi cho chị một lá thư giống như một tờ di chúc nhờ chị đọc cho các cháu nghe.
“Tôi là Ngô thị Ngọc Viên là vợ của anh Lê Vinh, mẹ của hai con Lê Vũ và Lê thị Ngọc Vân có lời di chúc rằng sau giỗ đầu của tôi thì xin chị dâu đứng làm chủ tác thành cho chồng tôi là Lê Vinh được sống chung với cô Hoàng Thị Sơn Thảo để hai người nương tựa nhau mà sống lúc tuổi già, vì cô Sơn Thảo là vị ân nhân của gia đình tôi. Các con và các cháu phải tôn kính cô Sơn Thảo như là mẹ vậy”.
Đọc xong, chị dâu quay qua hỏi: “Cô Sơn Thảo có bằng lòng với quyết định này không” “Dạ trước khi qua đời một năm chị Ngọc Viên đã hỏi em việc này và em xin chấp nhận và tạ ơn lòng độ lượng của chị”
“Thế còn chú Lê Vinh, chú có bằng lòng với lời di chúc này không?” “Trước khi mất , vợ em đã đề nghị việc này và em cũng chấp nhận”.
“Vậy kể từ hôm nay gia đình mình có cô Sơn Thảo là em dâu của tôi, là mẹ của các cháu Lê Vũ, Ngọc Vân, và Khiết. Bây giờ cô chú Lê Vinh và Sơn Thảo ra lễ bàn thờ.”
Hóa ra vợ tôi đã sắp đặt mọi chuyện chu đáo để không xẩy ra chuyện gì tiêu cực trong gia đình, họ hàng hay người ngoài cũng không dám đàm tiếu gì. Tạ ơn em, Ngọc Viên, em đúng là một bà nội tướng tuyệt vời giải quyết việc đời thấu tình đạt lý.
Sau “đám cưới” chớp nhoáng, hai chúng tôi cùng Thúy Liễu bay về Pháp lo chuyện bán nhà cửa của Sơn Thảo để nàng về làm dâu tại Mỹ.
Đào Ngọc Phong
California ngày 1 tháng 6 năm 2026 |