NHẬT KÝ MỘT BIẾN CỐ
Lê Lạc Giao
Phần mở đầu của quyển tiểu thuyết hồi ký "Tổ Quốc Trăm Năm" đang chuẩn bị xuất bản vào dịp 30 tháng Tư năm 2026.
Khi bước ra khỏi rạp hát Capitol, Hảo nhìn đồng hồ đã năm giờ rưỡi. Phim OK Coral không lưu lại trong anh một ấn tượng gì ngoài một lần đứng lên chào cờ và mặc niệm cho những chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc. Hôm nay, hai mươi tám tháng Tư năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm. Thành phố Sài gòn đã bắt đầu nhuốm mùi xác chết. Tiếng đại bác ầm ì ven đô, đâu đây tiếng súng nhỏ rải rác khắp nơi. “Vẫn bình thường chứ!” Hảo tự nhủ như vậy khi dắt xe honda ra khỏi bãi đậu rồi chạy về nhà.
Sài gòn chật chội khác thường khi từng đoàn người di tản từ các tỉnh miền Trung lũ lượt kéo về thành phố. Nhưng bình thường sao được, khi đứng lên trong rạp hát, anh đã phải chảy nước mắt khi nhìn thấy quốc kỳ bay trên nền trời xám xịt của nghĩa trang quân đội và tượng Tiếc Thương gục đầu chảy nước mắt như anh bây giờ. Đã hơn mười năm chưa bao giờ biểu tượng Tổ quốc tác động trí não Hảo mảnh liệt như những ngày cuối tháng Tư này. Có lẽ mọi người cũng như anh, đã nín lặng nén tiếng khóc khi bài hát Việt Nam Việt Nam cất lên trong cảnh hàng chục nghìn người chen lấn nhau bỏ phiếu bằng chân như cách gọi của báo chí nước ngoài trong những ngày miền Nam nguy kịch, để tìm một chỗ an toàn và tự do còn lại trên mảnh đất quê hương rách nát này.
Hảo ghé vào sạp báo mua tờ nhật báo Chính Luận rồi đi về nhà. Cha anh mở cửa hỏi ngay: "Có tin tức gì không con?" Hảo đưa tờ báo cho cha trả lời: "Không có tin gì, nhưng Sàigòn đang nguy, có thể bị mất trong nay mai!" Ông Xuân theo con vào trong lo lắng hỏi: "Sao con không đi cho rồi, ba thấy nhiều người như con đã đi từ tuần trước. Khi họ vô đây liệu con có tránh được tội chết hay không?" Cha anh đang nhớ lại cảnh xử tử rùng rợn của những năm kháng chiến. Cái bản án tử hình viết nguệch ngoạc nhét trên ngực nạn nhân, máu loang lổ trên tờ giấy hiện lên đậm nét trong trí ông. "Con đang lo liệu đây, để chiều nay vào sở xem sao." Hảo trả lời và đi ra sau. Không có ai trong nhà, hai đứa em anh có lẽ còn ở trong trường Đại học. Có thể chúng nó cũng đang tìm đường ra đi, không đứa nào tỏ ý thích Cộng sản cả.
Gia đình Hảo khi còn ở quê không là địa chủ, sống đủ ăn bằng sức lao động của cha và đôi quang gánh tảo tần của mẹ. Lên thành phố gia đình vẫn tiếp tục miệt mài đổ mồ hôi đổi lấy bát cơm. Cái hi vọng duy nhất của cha mẹ anh là niềm hi vọng vào ba đứa con. Cho con ăn học để có thể thay đổi được giai cấp trong xã hội bấy giờ. Điều đó tự nhiên, lương thiện và vô cùng thực tiễn. Mọi gia đình trên phần đất miền Nam Việt Nam này đều nghĩ như thế. Gia đình anh không ra khỏi cái bình thường ấy.
Nhiều khi Hảo tự hỏi mình có được tự do hay không? Có quyền quyết định cuộc sống của mình hay đang sống trong một xã hội mà con người bị tước đoạt mọi quyền sống, bị đàn áp và chà đạp nhân phẩm. Nô lệ, mất chủ quyền đối nghịch với tự do, độc lập là những ngôn từ nghe thật kinh khủng trong một xã hội theo anh đang băng rã vì chiến tranh hơn là vì động lực cách mạng mà quần chúng thực sự chỉ là nạn nhân không hơn không kém. Hảo nhớ đến Hùng, người bạn cùng khóa 5 Sĩ quan Thủ Đức năm 1972. Sau khi ra trường, Hùng không trình diện đơn vị mà đi thẳng vào mật khu Bến Lức. Đêm trước khi ra đi, Hùng gặp Hảo không giấu diếm nói thẳng, "Tao đi theo tiếng gọi Tổ quốc, theo vận động của lịch sử bởi vì kẻ nào đi ngược lại nó, kẻ đó phản lại dân tộc."
Sau khi Hùng ra đi, Hảo suy nghĩ không biết Hùng gặp anh nói những lời ấy có ngụ ý gì vì Hùng không cho anh một lời khuyên cũng không hề xem anh là kẻ thù tuy Hùng biết rõ anh về làm việc tại Cục Tình báo Chiến lược. Ngày hôm nay Hảo nhận rõ câu nói của Hùng chỉ để xác định lập trường của một người bạn chọn cho mình một chiến tuyến, và hàm ngụ rằng quyết định ấy rất đúng đắn.
Tháng trước Hảo theo Phùng, một người bạn thân đang là Thiếu tá chỉ huy trưởng đơn vị Đặc nhiệm Hải quân đến tham dự buổi họp của một tổ chức thanh niên bí mật mà đa số là trí thức trẻ tuổi Sài gòn. Phùng nói với Hảo, “Tổ chức lập ra từ sự bi đát của thảm kịch quốc gia. Bên ngoài đánh nhau với Cộng Sản, bên trong tham nhũng hối lộ hoành hành, và đất nước đang ngấp nghé bên bờ vực thẳm. Thanh niên ngồi lại với nhau tìm một con đường để giải quyết thực trạng bi thảm này.” Hảo lòng thầm nghĩ, đúng là như thế, nhưng có muộn lắm không! Sau khi giới thiệu, Hảo nhận ra được một số người anh quen biết qua báo chí, một số khác qua hồ sơ anh đọc nơi phòng tài liệu. Tuy nhiên, những người này đặc biệt không theo Cộng sản, nhưng họ chống cả hai phía. Qua cách phát biểu, họ chú trọng đến kẻ thù bên trong là chính quyền hiện tại hơn là Cộng Sản đang tấn công từ bên ngoài. Đến Phùng phát biểu, mọi người vỗ tay nhiệt liệt khi anh nhấn mạnh sự cần thiết của lực lượng quân sự vì Cộng Sản sắp sửa tấn công vào Sàigòn, do đó không thể ngồi lý luận suông mà phải tích cực tham gia chiến đấu chống lại kẻ thù. Phùng tiết lộ anh đang thành lập hai tiểu đoàn quyết tử, và nhờ vào vị trí Chỉ huy trưởng đơn vị đặc nhiệm, anh có quyền tuyển chọn bất kỳ ai. Kế hoạch đã trình lên vị tư lệnh Hải quân, và đã được ông đồng ý phê chuẩn.
Là một người lợi khẩu, Phùng làm cử tọa phấn khởi khi anh bảo đơn vị quyết tử này sẽ có y phục và dấu hiệu riêng. Phùng lấy trong tập tài liệu, một mẫu vẽ hình nước Việt Nam màu vàng trên nền xanh lam. Anh bảo, “Chúng ta cần một Việt nam đoàn kết, và chiến đấu vì một Việt Nam thống nhất. Huy hiệu này sẽ may trên túi áo trái nơi trái tim mang ý nghĩa dâng hiến hi sinh.”
Phùng đưa ra trước cử tọa một danh sách dài tên của các chiến sĩ mà anh đã chọn ra từ các đơn vị hải quân. Theo anh, những người này hoàn toàn tự nguyện vì họ ý thức được tình thế bi đát hiện tại và sẵn sàng đi ra mặt trận. Nam, sinh viên y khoa năm cuối xin Phùng ghi tên mình vào Tiểu đoàn để phục vụ công tác y tế. Mọi người phấn khởi và hoan nghênh nhiệt liệt trước sự tình nguyện của Nam, và sau đó thêm hơn mười thanh niên của nhiều phân khoa đại học Sài gòn lần lượt xin gia nhập với khát vọng lên đường tức khắc chiến đấu. Hảo hôm ấy làm thư ký cho Phùng, ghi tên từng người vào cái danh sách dài quyết tử ấy.
Sau khi ra khỏi cuộc họp, Hảo hỏi Phùng: "Liệu họ có đáng tin cậy hay không?" Phùng trả lời: "Tôi đã điều tra lý lịch an ninh của họ hết sức kỹ lưỡng. Anh mới đến lần đầu chứ chúng tôi đến với nhau đã lâu." Ngồi trên xe, Phùng đưa cho Hảo xem Cương Lĩnh của Tổ chức. Trong lúc Hảo đọc, Phùng hỏi:"Anh thấy thế nào?" Hảo không hiểu ý Phùng hỏi anh. Tuy nhiên, Hảo trả lời, "Làm được như anh rất có ý nghĩa, nhưng tôi nghĩ hai tiểu đoàn có quá ít ỏi lắm không!" Phùng cười:
"Bước ban đầu như thế, tiếp theo tôi sẽ tổ chức thêm dần thành một sư đoàn, nhưng anh phải nhớ quân quí hồ tinh bất quí hồ đa."
Hảo hiểu bạn, một người sống và làm việc theo triết lý Đông phương. Trong một xã hội hỗn loạn vì thời cuộc, đầy mâu thuẫn bởi những thế lực ngọai lai chi phối, Phùng luôn luôn điều chỉnh cuộc sống và chính con người anh theo tinh thần Trung dung Trung Đạo. Anh làm việc nhiệt tình theo phong thái của một chính nhân quân tử lúc Tổ quốc lâm nguy, nhiều khi hi sinh cả hạnh phúc gia đình. Phùng miệt mài theo đuổi con đường chống Cộng trên mặt lý luận lẫn thực hành. Và cái thực tiễn nhất của ngày hôm nay là anh đã thành lập được hai tiểu đoàn quyết tử.
Phùng hỏi Hảo:"Anh viết xong phần một của quyển thứ hai hay chưa?" Hảo trả lời, "Viết xong rồi, tuy nhiên anh cần cho tôi thêm tài liệu để viết tiếp chương hai." Hảo móc trong áo tập giấy anh viết đêm trước đưa cho Phùng.
Hảo đã đọc kỹ quyển thứ nhất Những Kẻ Đứng Bên Lề trong bộ Cờ Đỏ Sao Vàng Đi Về Đâu? do Phùng viết. Phùng phê bình thẳng tay tầng lớp trí thức Sài gòn. Từ giới sinh viên cho đến giáo sư, kỹ sư, bác sĩ... không ai thoát khỏi lý luận thực tiễn của Phùng. Anh bắt đầu bằng xã hội và cuộc sống để đi đến một thái độ sống mà anh cho là vừa phi nhân vừa khốn cùng. Những kẻ sống nhờ vào xã hội nhưng luôn luôn đứng bên lề xã hội. Họ giả ngơ giả điếc trước thời cuộc và bàng quang trước việc hàng trăm nghìn thanh niên miền Nam đang chịu gian khổ hi sinh ngoài chiến trường trong một cuộc chiến một mất một còn với Cộng Sản. Tuổi trẻ Sàigòn đắm chìm trong ánh sáng mờ ảo của quán café, vũ trường, quán rượu. Giáo sư đứng trên bục giảng nói với sinh viên những ngôn từ đao to búa lớn, nhắc nhở bổn phận và trách nhiệm đối với nước nhà một cách vô trách nhiệm bởi chính bản thân họ ù lì và khép nép bên lề cuộc sống. Phùng mô tả sự trái ngược của xã hội trong cuộc chiến tranh sống còn với kẻ thù. Ai thực sự quan tâm đến sự sống còn của miền Nam tự do và cái ý chí quyết chiến quyết thắng của những con người sống trên phần đất phía nam sông Bến Hải, liệu có thể đi đến chiến thắng hay chỉ dẫn đến thất bại?
Tuần lễ trước, Khoa, một người bạn thân của Hảo đến thăm thầy cũ dạy Triết học Đại học Văn Khoa Saìgòn. Anh làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng. "Thưa thầy, tình tình miền Nam đang nguy ngập. Ban mê Thuộc, Phước Long đã mất vào tay Cộng Sản. Là trí thức miền Nam thầy nghĩ gì?" Giáo Sư N. chậm rãi từ tốn trả lời:
"Chúng tôi là những người chỉ biết dạy học, không dính líu gì đến chính trị và không hiểu gì về quân sự cả. Chúng tôi là thành phần độc lập trong cuộc chiến tranh này."
Đáng lẽ ra Khoa dự tính còn một số câu hỏi nữa cho thầy mình, nhưng câu trả lời của giáo sư N. làm Khoa cụt hứng và sau đó anh ta chấm dứt cuộc phỏng vấn. Khoa gặp Hảo nói, "Thực ra lúc ấy tao muốn văng tục vì sau câu trả lời, ông ta không còn xứng đáng là thầy tao nữa nhưng vì lịch sự tao lặng lẽ rút lui."
Giáo sư N. giống như hằng bao nhiêu trí thức Sài gòn đứng bên lề cuộc chiến. Họ không khác những cột đèn, ghế đá trong thành phố bi thảm này. Hảo đánh giá họ tệ hơn cả cây cỏ, vì cây cỏ gió thổi lên còn làm nó rung động chứ đám trí thức Sài gòn vẫn cứ trơ trơ. Anh biết khi nói đến lập trường độc lập của đa số giới trí thức Sài gòn, họ tự cho mình là thành phần thứ ba chủ trương hòa giải hòa hợp dân tộc. Cái thành phần này lúc ban đầu rất mơ hồ, nhưng khi miền Nam bước vào giai đoạn giẫy chết nó hiện ra rõ ràng dần. Cuối cùng trở thành một thực thể vi trùng độc hại, cùng thứ vi trùng nguy hiểm hơn là Cộng sản đang gặm dần mòn thân thể miền Nam tự do này. Không kể những cán bộ cộng sản nằm vùng lũng đoạn, đám trí thức thành phần thứ ba này đứng bên lề nhưng sẵn sàng nhảy vào ăn có khi có cơ hội. Họ là thứ hoạt đầu với cái vỏ bọc kiên cố là độc lập, nếu cần là trung lập không theo bên nào và ngoan cố trong cái tháp ngà của họ.
Trong cuộc chiến một mất một còn hôm nay, chính nghĩa lập loè như con đom đóm những đêm tối trời. Điều tốt khó nhận thấy trong khi gương xấu nhan nhản khắp nơi. Tham nhũng và thối nát của giới cầm quyền, sự bạo tàn của chiến tranh, rồi tình trạng bình chân như vại của những kẻ trí thức, người giàu có trong thành phố là những cảnh đời trái ngược bi thảm. Cạnh tiếng ì ầm của bom đạn, bên tai không bao giờ ngớt tiếng hát nỉ non than vãn cho một cuộc chiến tranh dài triền miên như định mệnh của dân tộc Việt Nam. Tính chất phản chiến của những bản nhạc góp phần vào sự sụp đổ mà người Cộng Sản luôn luôn cho là tất yếu trong khi bài học hậu - Cộng sản thì không mấy ai chú ý tới.
Sáng thứ ba, nhiều tờ báo đăng tin Tướng Lư Hán của Quốc Dân đảng Trung hoa được chính quyền cộng sản Mao Trạch Đông phóng thích sau hơn hai mươi lăm năm cầm tù. Bản tin này càng làm nhụt chí chiến đấu, tạo sự hiểu nhầm cho người dân hơn là tiếng cảnh tỉnh cho một chế độ đang sắp sụp đổ vì bản thân nó không có gì ngoài sự ăn chơi đàng điếm lẫn tham lam ích kỷ của những người đang nắm vận mệnh miền Nam này.
Hảo hỏi Phùng, "Anh có biết cụ thể tại sao trong một cuộc chiến mà tương quan lực lượng hai bên tương đối như nhau, nhưng một bên lại cứ lùi dần rồi đi đến thất bại thảm hại. Tôi muốn nói đến Miền Nam Việt Nam của chúng ta ngày hôm nay." Phùng trả lời, "Thật dễ hiểu nếu biết được cụ thể rằng số tiền Nga Tàu viện trợ cho Bắc Việt được hoàn toàn xử dụng để phục vụ cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Nghĩa là không một xu, một cắc nào chạy ra ngoài guồng máy phục vụ chiến tranh. Trong khi đó, cứ một tỉ đô la viện trợ Mỹ thì một nửa đã chạy ra ngoài guồng máy chiến tranh, tôi không muốn nói là một nửa phần mất đi ấy chui vào túi của những người lãnh đạo miền Nam này." Hảo hiểu câu trả lời của Phùng phần nào miêu tả được cái nguyên nhân dẫn đến sự thất bại ngày hôm nay. Hậu phương của Bắc Việt thiếu ăn, thiếu mặt, ngay cả nhà cửa còn giữ nguyên trạng của những năm chiến tranh chống Pháp. Tài liệu từ cơ sở tình báo Trung Hoa quốc gia đặt tại Sàigòn cho biết nỗ lực sản xuất của Bắc Việt để xuất cảng lấy tiền phục vụ tiền phương miền Nam. Xi măng, vải vóc, thịt cá hàng ngày xuống cảng Hải Phòng xuất đi các nước để đổi lấy súng đạn, xăng dầu máy móc phục vụ chiến tranh. Hơn tám mươi lăm phần trăm nhà ở miền Bắc còn làm bằng tre nứa, và hơn năm mươi phần trăm người dân miền Bắc còn phải ăn độn khoai và trung bình mỗi năm họ chỉ được hai bộ quần áo.
Tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Bắc Việt với chiến lược tuyên truyền tinh vi, không từ một thủ đoạn nào biến cuộc chiến tranh bi thảm này thành cuộc Cách mạng thần thánh mà người dân miền Bắc đóng một vai trò cao cả. Dù mất mát hi sinh, trong mỗi gia đình người dân miền Bắc đóng góp cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước này là một nghĩa vụ thiêng liêng. Mục tiêu giải phóng một nửa đất nước có cùng một lịch sử bốn ngàn năm đang bị tràn ngập bởi quân đội Mỹ và hàng hóa Mỹ được thế giới xem như là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Có những nước ủng hộ Bắc Việt ra mặt dù chính họ đang là đồng minh của Hoa Kỳ. Đa số quốc gia trên thế giới dành cho Cộng sản Bắc Việt một nụ cười, trong khi nhắc đến miền Nam Việt Nam có những nhà ngoại giao nhăn mặt nhíu mày hỏi: "Hình như Việt Nam Cộng hòa có một Ông Tướng cowboy lãnh đạo phải không?"
Tôi chống Cộng vì gia đình tôi một thời là nạn nhân của Cộng Sản. Anh chống vì Cộng Sản đã giết cha anh năm bốn lăm. Bác tích cực chống cộng vì gia đình bác đã bị họ đấu tố. Chú xung phong ra mặt trận vì chú biết rằng nếu cộng Sản thắng thì con gà con vịt gốc tre cũng phải đóng thuế. Còn Hảo chống vì anh chỉ thấy lý thuyết Mác Xít là lừa bịp. Có hằng vạn lý do để chống Cộng và không có lý do nào là không đúng cả. Nhưng dựa trên những lý do ấy để chiến đấu thì chúng ta chỉ chiến đấu cô đơn và không sớm thì muộn cũng chỉ mua chuốc lấy thất bại. Miền Nam Việt Nam đã anh dũng chống Cộng bằng những lý do như thế. Trong khi cái bóng ma tả khuynh thì lúc nào cũng bàng bạc khắp nơi. Bởi một khi anh không ưa thích gì hữu thì tất nhiên anh dễ dàng có cảm tình với tả, và tả lại là thứ bà con xa của Cộng sản.
Tầng lớp lãnh đạo miền Nam mỗi ngày mỗi xô đẩy quần chúng vào vòng tay rộng mở của Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam, đứa con đẻ của Cộng Sản Bắc Việt mà không hề hay biết. Họ sống trong sự ngụy tín rằng Miền Nam không bao giờ có thể thua được vì còn có Mỹ. Còn biết bao ràng buộc văn kiện hoặc chính thức hoặc không chính thức mà bao đời Tổng thống Mỹ đã ký và đã hứa hẹn. Về mặt lô gíc họ nghĩ không sai. Nhưng họ quên đi một tiền đề quan trọng vô cùng là không ai muốn đem tiền bỏ mãi vào một nơi không mang lại lợi ích gì trong khi phải mất quá nhiều sinh mạng. Trong lòng xã hội Hoa Kỳ đã hình thành đạo quân thứ năm và đạo quân này mỗi ngày một lớn mạnh hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp ủng hộ Cộng Sản và Mặt Trận giải phóng Miền Nam đồng thời cô lập dần Chính quyền Miền Nam Việt Nam Cộng hòa.
Sàigòn trong những ngày cuối cùng tự do là một thành phố quốc tế. Báo chí khắp nơi trên thế giới đổ xô đến cái điểm nóng đang giẫy chết này để lấy tin, quay phim, chụp hình và cũng để chứng kiến kiểu mẫu của một nền văn minh chiến tranh sắp sửa biến mất trên trái đất này. Hảo thầm nghĩ đến một phần tư thế kỷ chiến tranh và một phần tư thế kỷ còn lại đất nước Việt Nam mến yêu này. Anh không biết được những ngày sắp đến sẽ ra làm sao trong khi cái viễn ảnh không mấy sáng sủa lúc nào cũng đè nặng tâm hồn mình.
Một ký giả Pháp bị bắn chết trước cổng Tổng Nha Cảnh sát đã làm cho không khí rối ren càng hỗn loạn hơn. Hảo lên xe đi vào sở làm. Thành phố này thực sự đang dẫy chết, anh thầm nghĩ như thế khi cố gắng vượt qua những nút chặn của Cảnh sát dã chiến để xuống bến Bạch Đằng. Lúc trình thẻ vào đơn vị anh thấy Hoàng đang cố gắng hết sức để đưa chiếc Lambretta qua khỏi cái đám đông chen chúc trước chiếc cửa hẹp của bộ Tư lệnh Hải quân.
Lúc vào cổng hai người gặp nhau. Thấy nét mặt lo lắng không che dấu khác với con người điềm đạm hằng ngày của Hoàng, Hảo lên tiếng:
“Tao nghĩ mày đã ra đi từ tuần trước.”
Hoàng lắc đầu:
“Tao không đi sớm vì tao nghe có lệnh di tản toàn bộ sở của chúng ta. Mày không biết hay sao?”
“Tao biết nhưng tin đó chưa phải là tin chính thức. Bây giờ tao phải lên trên ban. Hẹn chút nữa gặp nhau nói chuyện nhiều.”
Nói xong Hảo vội vã cho xe vào bãi đậu rồi nhảy qua hai cái hố sâu do hỏa tiển 122 ly của cộng sản bắn tuần trước hướng về phía ban của mình đi như chạy. Không hiểu tại sao vào sở Hảo thấy tình thế mang vẻ khẩn cấp vô cùng. Mọi người anh gặp dường như ai nấy trên mặt biểu lộ sự căng thẳng cực độ. Tiếng nổ đại bác đì đùng ven đô và tiếng súng nhỏ rải rác khắp thành phố như pháo mùa xuân. Hảo nói thầm, “Khóc lên đi quê hương yêu dấu.”
Bước vào trong phòng tiếp tân đặc nghẹt người. Khắp nơi kẻ ngồi người đứng, Phụng đang ngồi trên bàn của Điền ra dấu cho Hảo đến gần rồi bảo:
“Tôi nhắn tin cho ông mấy lần qua Phạm Huỳnh Thanh. Thế nó có nói lại với ông không? Tôi cần ghi địa chỉ.”
Hảo lắc đầu nhìn xuống xấp giấy mà Phụng đưa cho anh. Danh sách di tản đây. Anh điền địa chỉ của mình vào và ghi vào cột thân nhân là ba người khi nhớ đến hai người em và cha. Anh hỏi Phụng trong tiếng ồn rầm rĩ chung quanh:
“Xếp đâu rồi không thấy?”
Phụng không trả lời đưa tay chỉ vào phòng Giám đốc. Hảo đi ra cửa thì Đức bên trường Dược vừa bước vào. Đưa tay chào bạn, anh ra phía cửa sổ nhìn xuống con đường ra cổng. Vài người đi như chạy. Tất cả thành phố này đang chạy đây, Hảo thầm nghĩ rồi nhớ đến Phùng. Anh tự nhủ chốc nữa sẽ ghé nhà Phùng. Phùng có thể giúp anh di tản bằng đường tàu biển một khi nguy cấp. Tuy nhiên trong óc của anh vẫn bảo rằng đi chung với đơn vị là tốt nhất. Nhìn sang phải ban tham mưu, một cột khói đen kịt bốc lên phía lò thiêu hủy tài liệu. Hảo chỉ cột khói và hỏi Vinh khi thấy hắn vừa bước lên khỏi cầu thang.
“Phòng nhân viên đang đốt hồ sơ. Tôi vừa ở dưới ấy lên. Đáng tiếc quyển Bạch Thư của tôi viết bị hủy trước tiên.”
Vinh trả lời có vẻ tiếc rẻ. Hảo lấy làm lạ là giờ thứ hai mươi lăm này Vinh còn suy nghĩ như thế được. Anh hỏi:
“Ông tính thế nào?”
“Thì cũng nhờ vào sở thôi! Phát giác sớm tình trạng bi thảm này mà có quyết định như Bùi Bảo Trúc thì không khéo mang tội bội phản, bán nước hay đào ngũ. Chúng ta không đi sớm là vì chúng ta muốn biết một sự thật, và có thể phải trả giá thật đắt cho sự thật này.”
“Thế không phải những người đang làm công tác ở nước ngoài biết được sự thật sớm hơn chúng ta hay sao? Thái độ lựa chọn của họ liệu thích đáng hay không?”
Vinh nhìn thẳng mặt Hảo nói:
“Lúc này sự thích đáng mà ông hỏi mang ý nghĩa khôn ngoan hay không khôn ngoan mà thôi. Lòng yêu nước của mỗi người bây giờ không phải là sự hi sinh mà là lựa chọn cho mình một lối thoát rồi sau đó tính toán lại. Đời tụi mình tính toán bao nhiêu lần rồi nhưng không lần nào đúng cả!”
Nói xong Vinh không chờ ý kiến của bạn mà tất tả chạy vào phòng nhân viên. Hảo chợt thấy buồn chán và tâm hồn như chững lại. Trí óc anh dừng suy nghĩ đồng thời như đang cảm nhận cả một quá trình cuộc đời. Những hình ảnh lộn xộn như cuốn phim rối không tháo gỡ được, nhưng không che dấu được tàn tích quá khứ của một thời đấu tranh để có một ngày tàn lụi như hôm nay.
Hảo và đám bạn của mình đã đem tuổi trẻ cống hiến cho một giai đoạn lịch sử bạc bẽo nhất. Những ước mơ đi đôi với hành động được bù đắp bằng ê chề thất vọng. Con đường anh và bạn bè đi bị những chướng ngại do thế hệ đi trước chặn lại. Dù cố gắng biết bao để vượt qua, bạn bè anh dần dần bỏ cuộc. Có kẻ chạy sang hàng ngũ bên kia để tìm một chỗ đứng vì họ cho rằng ít ra ý niệm dân tộc rõ nét hơn trong cuộc chiến đấu của người cộng sản. Ngày hôm nay Hảo chợt nhận ra không cần biết những người bạn của mình ngày xưa đã đi vào chiến khu đúng hay sai, nhưng họ đang chiến thắng, và anh cùng đám bạn bè còn lại thua cuộc. Ván bài quyết định ăn thua đã rõ ràng chỉ có chính nghĩa vẫn còn là nan đề nhưng lúc này vấn đề ấy thật vô nghĩa.
Lắm lúc Hảo nhận rõ từ là kẻ tác động anh cùng bạn bè rơi vào thế bị động rồi cuối cùng trở thành nạn nhân cho chính thời đại mình. Anh và bạn bè đã đuối sức trong những ngày cuối cùng tháng Tư này, và bị cuốn trôi theo bánh xe lăn lịch sử. Anh đang trốn chạy thực tại hay thực tại minh chứng cho anh thấy được những cố gắng vô bổ mà bạn bè anh đôi lúc biện minh rằng bất phùng thời?
Hảo thẫn thờ bước vào phòng giám đốc. Tuệ, Vinh, Cảnh và một số người làm việc của các phân khoa đại học đã ngồi sẵn đang lắng tai nghe những lời nói chân tình cuối cùng của người chỉ huy một thời anh không hề có chút cảm tình:
“Chúng ta thua rồi. Bây giờ tự mình mỗi người phải tìm con đường sống. Bên tòa đại sứ Mỹ hứa sẽ di tản chúng ta nhưng hơn một tuần rồi vẫn không thấy trả lời dù danh sách đã gửi đi. Viên cố vấn trở về toà đại sứ đã hai ngày không thấy trở lại rồi mất liên lạc luôn. Hồ sơ tài liệu phòng Nhân viên và ban tham mưu đã thiêu hủy chứng minh cho thấy đơn vị đã tan hàng!”
Người giám đốc trẻ im lặng như chờ ý kiến của nhân viên. Ít khi thấy hành động như thế này. Hảo thầm nghĩ như thế. Những ngày vàng son có bao giờ ông ta chờ ý kiến của thuộc cấp đâu! Lúc nào cũng lịnh là lịnh, thi hành ngay không có ý kiến.
Sau lưng chỗ ngồi của ông ta là cây AK 47 treo trên khung gỗ lót vải nhung đỏ, chiến lợi phẩm của những ngày chiến đấu chống cộng không ngơi nghỉ trong hàng ngũ sinh viên Sàigòn. Cây súng được lau chùi bóng loáng như đang mai mỉa một quá trình công lao đem đổ xuống đại dương và ban tham mưu của nó đang trên đường tan rã.
Đứng lên đi về chiếc tủ sắt cuối phòng, giám đốc ban mở tủ lấy ra hơn mười gói bạc. Vứt lên bàn ông nói:
“Quỹ của tổng hội sinh viên còn hơn bốn triệu đồng. Các anh chia nhau đi rồi tìm đường mà thoát thân. Tôi cũng không hơn gì các anh. Phải đi ngay chứ đã quá muộn rồi.”
Không đợi trả lời, ông ta kéo ngăn bàn lấy ra ba hộp giấy vuông đẩy về phía nhân viên nói tiếp:
“Trong này có ba khẩu beretta, anh nào cần cứ lấy mà phòng thân. Tôi phải đi ngay đây.”
Lê Lạc Giao
|