CHỮ NGHĨA BỀ BỀ
Văn tự chữ nghĩa là thành tựu lớn về mặt văn hóa của loài người. Theo nhiều tài liệu khảo cổ học thì văn tự có sớm nhất từ 10.000 năm trước, đó là những nét khắc hoặc vẽ trong các hang động ở Úc châu. Muộn hơn thì cũng 5000 năm, những dạng chữ tượng hình của người Ai Cập cổ đại, chữ giáp cốt của người Trung Hoa…Từ văn tự chữ nghĩa mà loài người mới hình thành nên những nền văn học, văn chương rực rỡ: Văn học Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ, Ả Rập, Trung Hoa, Nhật Bản…
Văn học của tộc Việt muộn màng hơn, nhẹ ký hơn nhưng người tộc Viêt rất yêu chữ nghĩa, trọng chữ nghĩa, quý chữ nghĩa đến độ xem: “Vạn bang giai hạ phẩm/ duy hữu độc thư cao” nghĩa là thiên hạ muôn việc đều tầm thường, chỉ có việc đọc sách, viết sách là cao quý. Đó là do ảnh hưởng từ tư tưởng Nho giáo và văn minh Trung Hoa
Ngày xưa người mình học chữ Hán, Tứ Thư Ngũ Kinh, học thi cử từ chương…suốt cả ngàn năm phong kiến. Thuở ấy dân chúng đều mù chữ, chỉ có con nhà quyền quý và một số ít thầy đồ, học trò mới biết chữ. Cũng chính vì vậy mà người có chữ được trọng vọng lắm.
Học trò học chữ ở trường làng hoặc học ở nhà thầy đồ. Nếu thi hương đậu sẽ được lên tỉnh thi hội và cuối cùng về kinh thi đình. Một khi đậu trạng thì con đường công danh mở rộng, sẽ được bổ nhiệm làm quan. Bởi vậy mà bao nhiêu cô gái ước ao:
Thi hương, thi hội, thi đinh
Tên chồng trên bảng xướng danh rõ ràng
Ngày về áo mão vua ban
Võng anh đi trước võng nàng theo sau
Vinh hiển không chỉ mình em mà còn cả dòng họ và làng nước.
Trạng nguyên thì chỉ có một mà thiên hạ có bao nhiêu em muốn lên bà nên phải chấp nhận:
Một quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi
Chồng em cưỡi ngựa vinh quy
Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng
Em ra đón tận gốc bàng
Chồng em cỡi ngựa cả làng ra xem
Nhưng mà “Muốn lên bà khó lắm em ơi”, ấy là chưa kể có kẻ đậu trạng lập tức thay lòng đổi dạ, phụ bạc người nuôi mình ăn học để lấy tiểu thư con nhà quyền quý. Tân trạng nguyên không nhìn vợ cũ “Thôi thôi mau hãy quay về đi, lo con thơ chớ lo vịt gà, nhớ lúc ben nhau nàng hay chì chiết, giờ này tình đôi ta chỉ thế thôi, tôi nay là rể công hầu”.
Vì quý chữ nghĩa, trọng người có chữ nên em nhủ với mọi người:
Chẳng tham ruộng cả ao liền
Chỉ ham cái bút cái nghiên anh đồ
Chuyện xưa kể có kẻ từ xưa nẫu ra kinh ứng thí, đi qua cầu Nước Mặn gặp phải mấy cô thôn nữ ghẹo:
Tiếng đồn chàng hay chữ
Lại đây em hỏi thử một câu
Ngọt ngay nước chảy dưới cầu
Gọi cầu Nước Mặn cớ là đâu hỡi chàng?
Gã sinh đồ giật mình, rõ ràng cầu tên Nước Mặn nhưng dưới sông nước ngọt kia mà! Vốn lanh trí, mồm mép cũng đáo để, gặp gái đẹp nên hứng chí:
Thật thà là thói hồng nhan
Ăn xuôi nói ngược thế gian lạ gì
Mặn chằng nước vũng Đề Gi
Gọi đầm nước ngọt cớ gì hả em?
Đến nước này thì mấy cô thôn nữ chịu thua anh đồ rồi.
Cũng cùng hoàn cảnh lai kinh ứng thí, nhưng một anh đồ khác từ hướng Bắc đi vào. Học trò nào mà không chọc gái, nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò kia mà, quỷ ma thì không ai thấy nhưng học trò thì ai cũng biết, thế nên nhất nhì hay ba gì cũng là học trò hết ráo. Anh đồ thấy mấy o đang cấy lúa bên đàng bèn ghẹo:
Thấy em anh những âu sầu
Tội gì em chổng phao câu cả ngày?
Một o thôn nữ ngừng tay cấy, liếc một cái sắc lẻm rồi hò:
Rằng em chẳng có tội chi
Nếu em không chổng lấy gì anh xơi?
Ta nói đụng phải ổ kiến lửa rồi! phen này chữ nghĩa mất mặt bầu cua. Đường đường là anh đồ chữ nghĩa đầy bụng, lên kinh thi đình, ấy vậy mà bị mấy o thôn nữ cho xơi cái món ấy thì còn mặt mũi nào gặp thánh hiền? Ôi chữ nghĩa là thế, xem trọng là thế nhưng cà chớn là không xong với mấy o đâu nhé!
Thế rồi đến hồi nền Hán học suy tàn. Chữ Tây, văn minh Tây phương thay thế. Người có chữ không còn được trọng vọng như xưa. Tầng lớp có chữ phần nhiều không theo kịp sự chuyển biến của thời đại. Lối học tầm chương trích cú, thơ phú…quá lạc hậu lỗi thời. Ông Đồ, ông Tú, Ông cử, ông trạng không bằng thầy cai, thầy ký. Cỡ thầy thông ngôn danh giá và có tiền rủng roẻn, ăn mặc âu phục bảnh bao mà mấy em còn chê huống chi mấy anh đồ kiết xác với mớ chữ nghĩa ấm ớ.
Thông ngôn, ký lục bạc chục không màng
Yêu anh thợ bạc đeo vàng đỏ tay
Thời thế nó thế, chữ nghĩa hết thời. Mấy em không còn muốn lên bà nữa, thực tế hơn cứ yêu anh thợ bạc cho đời ánh lên sắc vàng.
Một hôm nọ, anh học trò hay chữ và anh thợ bạc nhiều tiền cùng vào chốn bình khang, cả hai lại phải lòng cùng một cô đào. Anh học giở chữ nghĩa ra tán tỉnh:
Nõn nà mướt mát mượt mà
Em cười rạng rỡ như là đóa hoa
Rõ ràng xứng lứa đôi ta
Rượu nồng, son phấn tà tà đêm nay
Ngâm thơ xong anh đặt lên bàn một quan tiền Thông Bảo. Anh thợ bạc thấy thế lập tức móc thỏi bạc nặng một đồng cân gõ cái cộp lên mặt bàn. Cô đào cười ỏn oẻn đẩy quan tiền lại cho anh học trò, miệng nhỏ nhẹ: “Anh tuy có Thông Bảo nhưng bảo đấy chẳng thông. Em đây thảo bông nên không thể thổng bao”. Nói xong cô đào nhét vội thỏi bạc vào yếm và kéo tay anh thợ bạc đi vào phòng trong. Gã thợ bạc cười đắc ý, tuy chữ nghĩa chỉ đủ nói được mỗi một câu: “Chữ nghĩa bề bề không bằng cái lờ em ấy”, chỉ chừng ấy thôi mà anh học trò còn ấm ức đến tận bây giờ.
Đúng là chữ nghĩa nó hành còn hơn bà hành. Chữ nghĩa bí bách thì tức anh ách như thể bò đá ngọc hành. Cũng vì vậy mà năm xưa Tú Xương than thở:
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay
Sao mà không cay, cay lắm chứ! Thảo nào đời nay có gã còn say chữ cứ ngỡ mình hay bày đặt viết bài gởi chỗ này chỗ nọ nhưng họ chẳng hồi âm gã âm thầm đau khổ vẫn cố chịu đấm với ý đồ ăn xôi nhưng ôi thôi xôi hỏng bỏng không lông bông năm tháng khiến em phát chán thế mà còn ráng mần thơ chờ thời viết lời văn đăng báo làm bát nháo một cõi giang hồ mạng:
Bớ em ơi! Anh đây chữ nghĩa một bồ
Mà tiền bạc chẳng biết nơi mô bây chừ!
Giá mà em có của dư
Trả công anh để đứ đừ đêm nay
Tưởng chốn bình khang không có chữ nghĩa, ai dè em ấy đáp ngay tắp lự:
Em đây lấy lỗ làm lời
Anh đem chữ nghĩa dối đời gớm ghê
Mặt mày ột dột ủ ê
Chữ lờ chữ nghĩa bề bề bớ anh.
Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0626
|