SỐ 112 - THÁNG 10 NĂM 2026

 

Con mèo thọt của mụ Chênh

VŨ NGỌC GIAO

Thật ra con mèo không phải của mụ Chênh mà của vợ chồng lão Hàm, một gia đình giàu có thuộc loại nhất nhì xóm Đá Bạc. Họ mua về nuôi từ khi nó chưa đầy một tuổi. Nghe đâu giống mèo từ Anh quốc lại đắt tiền nên lão Hàm phải bỏ ra hơn hai mươi triệu tậu nó để chiều lòng bà vợ suốt ngày mè nheo vì cái tội lão tối ngày bù khú với bạn bè bỏ mặc bà một mình vào ra trong ngôi nhà lầu bốn tầng quạnh quẽ.

Bộ lông con mèo xám tro như khói ướt, con mắt như hai hòn bi ve màu hổ phách nhìn ai cũng tò mò khiến tụi con nít trong xóm lần đầu thấy đã trầm trồ, đứa nào cũng mon men lại gần xin bà Hàm cho được sờ vào bộ lông xem có phải mèo thật hay chỉ là thú nhồi bông người ta bán đầy trên phố. Con mèo, hình như cũng biết nó làm con nhà giàu nên mặt mũi lúc nào cũng cau có khó chịu. Được vợ lão Hàm cưng như trứng mỏng, suốt ngày nó nhảy tót vào lòng bà mà ngồi, ra khỏi nhà vài bước bà cũng bế theo không nó giận dỗi bỏ ăn. Chợ búa cơm nước đã có người giúp việc nên bà Hàm chẳng mấy ra khỏi nhà vì thế tụi con nít họa hoằn lắm mới được chiêm ngưỡng con mèo.

Trời chưa sáng hẳn, vài nóc nhà tối thẫm còn chập chờn giữa màn sương muối, xóm Đá Bạc bỗng xôn xao vì tiếng còi xe tải bim bim ở đầu đường, tiếng chân người rầm rập đi lại, tiếng đàn ông con trai ông ổng gọi nhau. Vài cánh cửa tò mò mở ra, người ta thấy đâu như vợ chồng lão Hàm chuyển nhà, một tốp thanh niên lực lưỡng chạy đi chạy lại khiêng bàn ghế chất hết lên xe tải. Lão Hàm tất bật vào ra, cái bụng phệ ỏng xuống như sắp đẻ khiến tướng đi của lão lặc lè, vừa dặn dò đám thanh niên khiêng đồ đạc nhẹ tay, lão vừa xoèn xoẹt đếm xấp tiền trước khi dúi cho tài xế. Hai chiếc xe rùng lên rời đi bỏ lại phía sau cuộn khói bụi mù, lúc này vợ lão Hàm mới xuất hiện trong chiếc váy dài chấm gót kiêu sa bên cạnh ông chồng lùn tịt, bà thoáng chau mày vì mùi xú uế xộc lên từ thùng rác bên đường. Chẳng buồn chào bà con chòm xóm lấy một tiếng, bà vén váy ngồi vào chiếc Audi màu mận chín. Xe lao đi, đám con nít vừa ngủ dậy mắt còn đọng ghèn nhào ra ngã ba lơ ngơ đứng ngó theo, mũi chúng khìn khịt vì mùi nước hoa sực nức còn loang ra cả ngõ, có vẻ như tụi nó tiếc rẻ vì từ nay chẳng còn được nhìn thấy con mèo xinh đẹp.

Ngôi nhà bốn tầng của lão Hàm từ ngày đó im ỉm khóa, nghe đâu chủ mới sắp sửa dọn về cũng là một tay nhà giàu trên thị trấn, nhưng một tuần… rồi hai tuần… vẫn chưa thấy ai xuất hiện.

Một buổi sáng như thường lệ, những thanh âm lao xao quen thuộc lại vang lên. Đầu tiên, tiếng ống pô xe máy phành phạch của anh cu Dỉn đi bỏ hàng cho má, tiếng ồm ồm của ông Vạn chạy xe ba gác càu nhàu đám con trai sáng nào cũng chậm như rùa bò. Chỉ đến khi tiếng chị Phà hò hét con bé Chút chở trái cây ra chợ thì lúc đó xóm mới yên tĩnh hơn một chút. Giữa mớ âm thanh hỗn độn người ta bỗng nghe tiếng thét thất thanh của một con mèo. Tụi con nít tỉnh ngủ hẳn nháo nhào lao ra. Bên gốc cây bàng cụt ngọn, một con chó cao to đen trũi nhà ai vừa sổng cổ còn đeo sợi xích sắt leng keng, nó nhe nanh gầm gừ tiến về phía con mèo đang run như cầy sấy. Con mèo nép vào tường thủ thế nhưng miệng vẫn ngậm chặt một miếng thịt bầy nhầy. Tụi con nít nhanh chóng nhận ra đó là con mèo nhà lão Hàm nhưng nay nhìn nó lem luốc không khác gì một con mèo ốm đói.

Trong đám con nít, thằng Ri ra dáng đàn anh nhất, nó lẳng lặng đến bên đống củi chất ở vệ đường rút một cây lừ lừ tiến về phía con chó, mấy đứa khác bắt chước làm theo. Sau một hồi bị hăm dọa, con chó len lén cúp đuôi bỏ đi không quên ném cho thằng Ri cái nhìn hậm hực.

“Sao bà Hàm không đem con mèo theo ta? Bà cưng nó lắm mà sao lại bỏ quên?” Út Đẩu lẩm bẩm.

“Ở đó mà quên! Vài bữa nữa bà về rước nó đi cho mà coi” con Thảnh thầm thì.

Trong khi tụi con nít xúm lại đoán già đón non, con mèo sè sẹ quay đi, nó nhúc nhắc lê từng bước khó nhọc với cái bụng lép xẹp của một con mèo bị bỏ đói từ rất lâu rồi.

“Ủa, coi kìa! Con mèo bị thọt chân!” thằng Ri thảng thốt kêu lên.

Phát hiện của thằng Ri không khác gì một cơn chấn động. Tụi con nít đuổi theo coi con mèo thọt chân mà mới ngày nào còn kiêu sa đi đi lại lại trước cửa nhà. Sau một hồi ngó nghiêng, thằng Ri kết luận: Con mèo đã bị vợ chồng lão Hàm bỏ lại vì cái chân thọt xấu xí.

Nhìn dáng vẻ ốm đói tiều tụy của con mèo, Út Đẩu không cầm được ôm mặt thút thít khóc trong khi mấy đứa kia vội vàng chạy về nhà coi có gì đem ra cho con mèo ăn tạm. Được ăn, con mèo tỏ ra thân thiện hơn, nó chịu để Út Đẩu ôm vào lòng mà vuốt ve, đứa nào cũng giành đem con mèo về nuôi nhưng ba má tụi nó không chấp nhận, còn dọa quăng con mèo vô thùng rác, cuối cùng thằng Ri đành bế con mèo đi quanh chợ xin cho nó được nhận nuôi nhưng ai thấy cũng quầy quậy lắc đầu, còn phang thêm câu “Khùng hả bây! Nuôi gì hông nuôi, đi nuôi con mèo cà thọt!”.

Chủ nhà mới dọn về. Và tất nhiên con mèo phải ra đường. Ngày ngày nó ngồi dưới gốc cây bàng kêu than, tiếng kêu ai oán vì đói, vì lạnh hay vì nhớ chủ cũ cũng không ai biết nữa, người ta lướt qua nó bằng cái nhìn thương hại rồi đi ngay. Tụi con nít thỉnh thoảng mang thức ăn ra cho nó, mà con nít vốn mau quên nên con mèo phải tự kiếm ăn ở thùng rác gần nhà. Cái chân thọt khiến nó khó giữ được miếng mồi trước những con mèo hoang khác, hôm nào chẳng may gặp chó dữ thì coi như mình mẩy nó đầy thương tích… Con mèo đáng thương cứ thế lay lắt cho đến một ngày…

Đó là ngày mụ Chênh lên chùa, cái ngày đã mù sương lại còn gió không là gió, mụ vừa đi vừa đưa tay giữ cái khăn đen che mặt, lúc ngang qua gốc lộc vừng nghe tiếng mèo kêu thảm thiết mụ tò mò dừng lại. Nói tới mụ Chênh, tụi con nít xóm Đá Bạc không đứa nào không sợ. Mụ Chênh không ác, cũng chẳng la mắng đánh đập gì nhưng hễ ai nhắc tới tên mụ là tụi con nít le lưỡi bỏ chạy.

Mụ Chênh kiếm sống bằng nghề cạo gió giác hơi. Mụ từ đâu trôi dạt về cũng không ai biết, chỉ biết một ngày mụ thình lình xuất hiện với hai túi vải căng phồng trên vai, lững thững tìm đến thuê trọ căn nhà tồi tàn cuối xóm. Giọng mụ nghe ra như người Huế, mụ xưng với đám con nít là mụ nên người ta cứ theo đó mà gọi. Gặp bữa trái gió trở trời ai thấy trong người nặng nề khó chịu, mình mẩy ê ẩm thì cứ tìm đến mụ, mụ ra tay một tiếng đồng hồ là y như rằng con bệnh đứng lên đi về khỏe re. Điều đáng nói, bà con xóm Đá Bạc và cả những người khách thường xuyên lui tới cạo gió giác hơi, chưa ai một lần nhìn thấy dung nhan mụ, bởi quanh năm mụ sùm sụp che mặt bằng một chiếc khăn đen to dày. Nghe đâu có lần mụ Chênh ra chợ mua lá về xông cho khách, tới ngã ba đường trời thình lình nổi gió thổi bay cái khăn. Người ta sửng sốt trước khuôn mặt biến dạng chi chít những vết sẹo dài lồi lõm méo mó đến thảm thương. Sau lần đó, mụ Chênh thận trọng hơn, mỗi khi ra đường, bên trong chiếc khăn che mặt còn có một lớp khẩu trang thiệt dày. Cũng từ dạo đó người ta bắt đầu đồn đoán về những vết sẹo trên mặt mụ Chênh. Có người nói mụ bị phỏng nước sôi, nhưng cũng có người nói kiểu sẹo hồng hồng ăn sâu vào bên trong hủy hoại khuôn mặt cỡ đó thì chỉ là axit.

Tụi con nít vốn đã ác cảm với mụ từ ngày đầu bởi cái khăn đen che mặt, đến khi biết được sau cái khăn đó là một khuôn mặt gớm ghiếc thì tụi nó càng tránh xa. Ra đường lỡ thấy mụ Chênh đi đằng trước, cách gì tụi nó cũng vòng đường sau dọt lẹ.

Lại nói về con mèo. Nghe tiếng kêu thảm thiết, mụ Chênh dừng lại nhìn quanh mới nhận ra con mèo đang nép vô hốc cây bàng mà khóc, tiếng khóc yếu ớt như thể đang đói khát của một con vật khiến mụ xót xa. Xưa giờ mụ vốn không ưa mèo, cái giống tối lại cứ chui vô xó xỉnh mà meo meo nghe nẫu hết ruột gan, đã vậy cứ hở ra là đẻ, nhiều năm thuê trọ mụ đã ngán cái cảnh mèo mẹ mèo con rồng rắn kéo nhau đứng ngoài cửa ngó vô xin ăn, nhưng không hiểu sao trước con mèo này mụ lại động lòng trắc ẩn. Mụ lại gần đưa bàn tay về phía nó, con mèo lập tức chui ra đánh hơi, có vẻ như nó hy vọng người đàn bà này có thể cho nó chút thức ăn thừa. Lúc này mụ Chênh mới nhận ra một chân sau bên phải của con mèo bị teo rút lại phải đi cà nhắc. “Tội nghiệp con! Lại đây với mạ!” mụ thốt lên, rưng rưng như nói với đứa con rứt ruột đẻ ra. Con mèo nhìn mụ đầy cảnh giác, chiếc khăn bịt mặt màu đen khiến nó e dè. Meo lên một tiếng khe khẽ, con mèo quay đi, cái chân thọt như miếng thịt thừa lủng lẳng khiến nó nhích từng bước khó nhọc.

“Lại đây! Lại đây với mạ!” không dưng nước mắt giàn giụa, mụ rút chiếc khăn mùi xoa ra hỉ mũi rột rột.

Bằng linh cảm của một con vật bị bỏ rơi, con mèo chợt nhận ra người vừa gọi có thể sẽ cho nó một tổ ấm, một nơi nương tựa trong tình cảnh bi thương này. Con mèo ngoái lại chăm chú nhìn mụ Chênh, lúc này chiếc khăn trùm mặt đã được mụ kéo xuống với hy vọng sẽ lấy được sự tin cậy của con mèo. Quả nhiên, con mèo chầm chậm tiến về phía mụ rồi bất thần sà vào lòng mụ mà dụi đầu như đứa con đi xa lâu ngày trở về.

“Về với mạ, mạ nuôi nà!” mụ âu yếm nâng gương mặt nó lên ngắm nghía đôi mắt trong veo màu hổ phách tuyệt đẹp.

* * *

Từ ngày về với mụ Chênh được ăn uống đủ đầy, con mèo lại mượt mà như trước. Có vẻ như mụ Chênh chăm nó còn hơn cả vợ lão Hàm. Mỗi khi ra ngoài mụ luôn cho nó vào cái giỏ mây thiệt đẹp đem theo bên mình. Người xóm Đá Bạc khen con mèo có phước, họ tò mò ngắm nó mặc những chiếc váy ren xinh đẹp do chính tay mụ Chênh may, hai bên tai được mụ cho bấm lỗ và đeo khuyên, trên cổ luôn được thắt một chiếc nơ xinh xẻo màu đỏ tươi có gắn lục lạc.

Con mèo trở lại trong dáng vẻ mĩ miều tuy cái chân thọt khiến nó bớt kiêu sa. Mụ Chênh đặt cho nó cái tên nghe thiệt sang: Mỹ Tiên. Bà con chưa hết xôn xao vì giữa một cái xóm lao động có con mèo ăn diện như công chúa, thì họ lại thêm một phen ngơ ngác khi nghe mụ Chênh gọi con mèo bằng cái tên mà đến ngủ mơ họ cũng không nghĩ ra: Mỹ Tiên à! Vô nhà cả mưa con!. Mỹ Tiên à mau về ăn cơm với mạ! Mỹ Tiên à, mau vô mạ mặc thêm cái áo cả lạnh!...

Ban đầu người ta bấm nhau mà cười nhưng dần dà thấy mụ ôm con mèo nựng bằng cái tên Mỹ Tiên mà cả người mụ rung lên vì xúc động, người ta mới thôi, quay qua thầm thì. Ờ thì mụ là người đàn bà hẩm hiu không nhan sắc, không chồng con giờ có con mèo để thương âu cũng phải, có gì mà cười?

Con mèo ở với mụ Chênh đâu gần chục năm cho đến một buổi sáng người ta nghe thấy tiếng nó kêu thảm thiết, tiếng kêu khóc khiến mấy đứa con nhà ông Vạn, chị Phà tông cửa ngó ra. Nhà mụ Chênh cửa khép hờ nhưng không hề nghe tiếng mụ dỗ dành con mèo như mọi ngày. Nghĩ mụ bận sửa soạn làm cho khách không để ý đến nó nên tụi con nít cũng thôi.

Chiều lại, một bà khách quen tới trước cửa đứng đợi mụ giác hơi như mọi lần. Kêu hời hời cũng không thấy mụ xuất hiện, bà đẩy cửa bước vô đã thấy mụ Chênh nằm sõng soài dưới nền xi măng, bên cạnh mụ con mèo đang khe khẽ kêu lên tuyệt vọng. Bà khách xốc mụ lên, nghe chân tay đã lạnh ngắt từ bao giờ.

Mụ Chênh đã chết. Người ta nói có lẽ mụ đi từ trong đêm.

Mụ Chênh nằm đó, khuôn mặt không có khăn che. Những vết sẹo lồi lõm chằng chịt như được thể biến dạng đến đáng sợ. Người ta quay đi chẳng dám nhìn lâu. Có lẽ trước lúc chết mụ đã trải qua một cơn đau vật vã, trên khuôn mặt còn phảng phất vẻ đau đớn đến phút cuối.

Mụ Chênh không người thân cũng chẳng họ hàng thân thích nên bà con xúm vô lo cho mụ một đám tang chu đáo. Mụ Chênh được chôn tại nghĩa địa cách xóm Đá Bạc không xa, ở đó đã có sẵn những cái mả lâu đời, những cái mả không người thân thích trôi dạt về trong sau những đợt bão lũ.

Chủ nhà trọ cho dọn dẹp căn phòng mụ Chênh. Toàn bộ đồ đạc được đem ra để ở ngã ba, ai cần gì cứ lấy, còn lại đợi xe rác tới đem đi. Lúc xúm vô dọn, bà chủ nhà lôi cái rương dưới gầm giường mở ra. Trong rương có vài chiếc áo dài lụa được may khá công phu, nhìn vải vóc và đường kim mũi chỉ người ta đoán những chiếc áo này chủ của nó chỉ có thể là người giàu có. Trong rương còn có một hộp sơn mài, bên trong hộp là hai chiếc nhẫn cưới bằng vàng, một sợi dây chuyền ngọc trai, một chiếc vòng cẩm thạch và vài chiếc trâm cài tóc được chạm trổ tinh xảo.

“Chà, ngày còn trẻ chắc mụ Chênh điệu phải biết!” chị Phà thầm thì.

Bà chủ trọ soạn những đồ vật còn lại trong chiếc rương cẩn thận để ra từng thứ nhưng tuyệt nhiên không ai dám lấy đi.

“Coi nè! Ai đây?” tiếng một bà cụ kêu lên.

Người ta chụm đầu vào tấm ảnh trên tay cụ. Đó là tấm ảnh trắng đen đã có phần mờ ố. Trong ảnh, một thiếu phụ mặc áo dài chít eo, từ khuôn mặt đến vóc dáng đều toát lên vẻ đài các, kiêu sa, tay thiếu phụ bế đứa con gái nhỏ xinh xắn…

“Ai mà đẹp quá! Hông lẽ…”

Bà cụ lật phía sau, dí sát mắt vào đọc dòng chữ bằng mực xanh nghiêng nghiêng được viết nắn nót Ngày Mỹ Tiên của mạ tròn hai tuổi. Mọi người nhìn nhau buông tiếng thở dài thương cảm, không ai bảo ai mà ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía con mèo đang ủ rũ ngồi trong góc tối.

“Mỹ Tiên, lại đây!” Chị Phà khẽ gọi.

Con mèo giật mình sực tỉnh, nó ngơ ngác nhìn mọi người rồi nhanh như cắt lao qua cửa sổ biến mất. Những ngày sau đó người ta chẳng thấy nó đâu, vài người thương tình có ý nhận nuôi nhưng không cách gì tìm ra.

Con mèo đã rời khỏi xóm Đá Bạc không hẹn ngày trở lại.

Buổi chiều thằng Ri đi đá banh về, vẻ mặt nghiêm trọng nó hổn hển kể cho mọi người nghe: Tình cờ đi ngang qua nghĩa địa nó thấy trên nấm mộ mụ Chênh có một khối xam xám thoạt nhìn như ai đó bỏ quên chiếc áo. Nó lại gần mới nhận ra Mỹ Tiên nằm đó mắt nhắm nghiền, lay cách gì Mỹ Tiên cũng không dậy được nữa.

Mọi người kéo nhau ra xem thực hư. Quả đúng vậy. Con mèo đã chết. Có lẽ nó chỉ vừa mới trút hơi thở cuối cùng, bộ lông vẫn mượt mà như được mụ Chênh chải chuốt hàng ngày, mắt con mèo nhắm nghiền như chìm vào giấc ngủ sau cùng, trên cổ nó chiếc nơ vẫn rực lên một màu đỏ thắm.       

V.N.G

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026