GIONG BUỒM LÊN ĐI VỀ HƯỚNG MẶT TRỜI
(Vài suy nghĩ nhân đọc tập 3 Thơ Việt Ở Đức)
*Dấu mốc với sự phát triển Thơ Việt ở Đức.
Có thể nói, đến tập thứ 3, thì Thơ người Việt ở Đức có một bước tiến khá dài, về nội dung cũng như nghệ thuật sáng tạo. Nếu ở tập một phần lớn thơ vần vè chào mừng cái này, ngợi ca cái nọ…thì đến tập ba, cái tôi, cái dấu ấn giọng điệu riêng đã hình thành đường nét trong từng tác giả. Kể từ tập một đến nay đã tròn một con giáp, chất lượng thơ, dường như tịnh tiến (song song) với cuộc sống người Việt ở Đức. Cho nên khi đọc: Viết Cho Tuổi 50, một bài thơ có những câu từ với hình ảnh so sánh thú vị của Trần Hải Yến cho tôi cảm xúc, ý tưởng để viết bài này. Vì vậy, tôi xin mượn nó làm lời tựa cho bài viết: “Ta ở giữa tương lai và hoài niệm/ Thì thôi cứ coi đời như là biển/ Giong buồm lên đi về hướng mặt trời“. Vâng, giữa giông bão, biển trời mênh mông ấy, sự can đảm tìm đến chân lý và ánh sáng ở cái tuổi bên kia của con dốc, thì quá khứ, hoài niệm luôn điểm tựa cho thi ca cũng như cuộc sống của thi nhân, của người Việt mấy mươi năm gắn bó trên quê hương thứ hai này.
Mười hai năm để hình thành, phát triển: Thơ Việt Ở Đức quả thực chưa phải là dài. Nhưng ngần ấy thời gian in ấn và phát hành đến ba tập thơ dày và nặng như cục gạch thế này, chắc chắn không có nhiều cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã làm được. Như ta đã biết, CHLB Nga nơi tập trung rất nhiều nhà văn, nghệ sĩ, trí thức, sinh viên, người lao động… nhưng đến nay dường như người Việt ở Nga mới in ấn, phát hành một tập thơ mang tên: Nối Hai Đầu Thế Kỷ vào năm 2014.
Mấy năm trước, nhà văn Phạm Thị Hoài có nhờ tôi giúp một người quen của chị tìm hiểu, nghiên cứu về văn thơ người Việt (người lao động) ở miền Đông nước Đức. Điều tất nhiên, ngoài văn xuôi, thì cái mốc hay tình hình sinh hoạt, phát triển số và chất lượng thi ca của người Việt ở Đức hầu như đều (lưu giữ) chưng cất, sàng lọc qua những tập thơ trên. Tôi đã trao đổi khía cạnh này, với người bạn của nhà văn Phạm Thị Hoài khá kỹ. Cho nên, việc in, phát hành Thơ Người Việt Ở Đức rất quan trọng cho sự nghiên cứu về các tác giả, và văn học sử sau này. Một điều chắc chắn gần đây thôi sẽ có các công trình nghiên cứu, luận văn về dòng Văn học Việt ở Đức cũng giống như ở Mỹ và Canada hiện nay. Từ những lý do, thành quả quan trọng như vậy, nên không riêng (cá nhân) tôi, mà nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình trong cũng như ngoài nước đánh giá cao sự cố gắng, nhiệt thành của Nhà xuất bản Vipen cùng tất cả các nhà thơ Việt trên toàn nước Đức, và đặc biệt hai anh Sa Huỳnh, Thế Dũng.
Ngày 28.06.2014 tại Literaturhaus Berlin, buổi ra mắt: Thơ Việt Ở Đức tập một là dấu mốc khởi đầu cho thi ca người Việt ở Đức (ở thời điểm đó chủ yếu ở Berlin và khu vực miền đông). Và những buổi sinh hoạt thường niên sau đó của các thi nhân Việt như ngọn lửa liu riu gìn giữ, sưởi ấm hồn Thơ Việt Ở Đức vậy.
Lực lượng sáng tác rải khắp các vùng miền trên nước Đức, với hầu hết thể loại, đi sâu vào nhiều đề tài khác nhau làm cho Thơ Việt Ở Đức tập 3 thêm phong phú, và sinh động. Ở đó, người đọc thấy được tâm tư, tình cảm cuộc sống người Việt ở Đức một cách chân thực nhất. Tuy nhiên, dù có sự cố gắng, nỗ lực của ban tuyển chọn, biên tập (mà ở đây là hai anh Sa Huỳnh và Thế Dũng) tập 3 Thơ Việt Ở Đức vẫn để lọt một số bài mang tính chất chào mừng, ngợi ca. Đây là điều tối kỵ nhất của thi ca. Vì vậy, việc phê bình, khen chê ở bài viết này, chỉ trong khuôn khổ thi ca của cộng đồng người Việt ở Đức mà thôi…
*Tác giả và những trang thơ giàu cảm xúc.
Cùng mạch cảm xúc Viết Cho Tuổi 50 của Trần Hải Yến, với bài thơ Ước Say của mình, Vũ Thương Giang như thể mang khát khao tình yêu, và cuộc sống đến cho người đọc vậy. Bài thơ được viết ở thể lục bát, một thể thơ dễ viết song khó hay. Dường như, đây là lần đầu tôi đọc thơ Vũ Thương Giang. Phải nói, thơ chị sâu sắc, và lãng mạn. So với mặt bằng chung ở tập thơ này, năm bài được tuyển chọn của Vũ Thương Giang đều hay, và tôi dừng rất lâu ở Ước Say của chị. Ở đó, tưởng chừng nhà thơ muốn mượn rượu để buông xuôi lý trí, quên đi hình bóng cũ, với nỗi buồn dù đã xa vời vợi chăng? Song dường như càng say nỗi đau ấy càng nhân lên gấp bội. Bởi vậy, ước say, nhưng thực ra Vũ Thương Giang muốn tỉnh, giũ bỏ nỗi buồn đắng cay để vượt qua giông bão tình yêu, giông tố của cuộc đời. Tuy từ ngữ dân dã, song bài thơ có hình ảnh đẹp, mang mang hồn vía cổ phong. Sự lãng mạn ấy (của Ước Say) buộc tôi phải tìm đến Thơ Say của Vũ Hoàng Chương để đọc lại. Dù mới đây thôi tôi đã viết khá kỹ về: “Vũ Hoàng Chương- Lạc loài trong cõi nhân sinh“. Tuy Ước Say của Vũ Thương Giang còn vài lỗi nhỏ về niêm luật lục bát. Nhưng với tôi đây là một trong bốn bài hay, cho tôi nhiều cảm xúc nhất trong tập thơ này:
“…Ước say, ríu cả bước chân
Không về lối cũ, mờ dần bóng xưa
Không nghe tiếng gió nghịch mùa
Thông thênh thổi mãi giậu thưa. Buốt lòng.
Ước say, vít ngọn mi cong
Mắt nhung khép lại. Mặc giông bão đời...
Cuộn mình, tròn giấc mộng thôi
Trong vòng tay, tựa cánh nôi dịu dàng…”
Thiên nhiên, vũ trụ gắn với cuộc sống tình yêu là một đề tài đã được nhiều cây bút đi sâu vào khai thác. Các tác giả hầu như đã sống và làm việc từ ba, bốn chục năm ở Đức như: Hiền Mimosa, Ngọc Nga, Phạm Mai Duyên, Lưu Hạnh Phong, Gia Bảo Lê, Mai Tâm, Bùi Lê Chung Thủy, Vân Quyên, Trần Hải Yến, Vũ Ngọc Roãn…Cho nên, mượn thiên nhiên giãi bày cảm xúc, với hoài niệm, nỗi nhớ quê, gia đình gắn chặt từng trang thơ của mỗi tác giả. Thật vậy, nếu Lưu Nhã Kỳ mượn mùa thu gửi nỗi buồn cùng giấc mơ tan vỡ, với hình ảnh, hồn thơ thật đẹp và sinh động: “Ừ, thì anh cứ đi đi!/ Hoàng hôn buông, thu về trên lối nhỏ/ Màu lá đỏ xao xác góc trời mơ/ Anh đi rồi lá đỏ bỗng ngẩn ngơ/ Em bơ vơ mặc vần thơ bỏ ngỏ/ Chiều tím đỏ bởi hồn thơ dang dở/ Em ngỡ ngàng chợt tỉnh giấc mơ xa” (Ừ thì anh cứ đi đi) thì Vũ Lương đứng giữa chiều thu lặng lẽ, hồi tưởng về lẽ sinh tử buồn rười rượi. Có thể nói đây là một bài thơ, hay một giấc mơ ám ảnh nhất trong tập thơ này của Vũ Lương. Bởi, nó cho tôi cái cảm giác chờn chờn, rờn rợn khi đọc:
“Trầm mặc quá
Một chiều Thu tĩnh lặng
Lá rụng rơi phủ lấp lối mòn
Bóng người khuất bên mộ phần suy tưởng (…)
Mỗi mùa Thu về gợi nhớ những ngày qua
Nhớ phút giây buồn đau, phút giây hạnh phúc
Nhớ lúc tiễn biệt người thân về thiên thu trào nước mắt
Khắc vào tim nỗi đau không thể xoá nhoà” (Thu nơi ngàn thu)
Là một nhà báo kỳ cựu đi nhiều, viết nhiều, nên vốn sống của Vũ Lương phong phú. Với tâm hồn nhạy cảm, sự quan sát tỉ mỉ làm cho thơ văn của Vũ Lương sâu sắc, chân thực. Tôi đã đọc khá nhiều thơ Vũ Lương, nhưng phải đến: Gửi Thời Trai Trẻ, mới cho tôi thực sự rung động. Với lời thơ tự sự, trữ tình như thể Vũ Lương đã vẽ nên, và gửi hồn vào bức tranh sinh động về núi rừng Tây Bắc vậy. Không hề có sự so sánh, song đọc nó, chợt làm tôi nghĩ đến bài thơ: Gửi Lai Châu của Trần Mạnh Hảo. Bởi, cải hai bài đều viết về núi rừng Tây Bắc, nơi tôi chưa từng đến. Song đã gieo vào hồn tôi cái tình yêu nơi đây:
“…Ngày xưa ấy, tôi đi như ngọn gió
Ngắm đỉnh trời qua đôi mắt ngây ngô
Những bản làng leo heo già theo năm tháng
Chút chạnh lòng, tóc bạc trắng phôi pha. (…)
Ngày gặp lại, gió miên man thổi
Còn sức đi, còn viết giữa mây ngàn
Đã đến lúc quay về nơi bậc thẳm
Vần thơ này... níu giữ được hồn tôi”
Về đề tài mùa thu, bài Thu Quê của Trần Nguyên Quyền gợi cho tôi nhiều hình ảnh sinh hoạt làng quê bình dị thật đẹp, và xúc động. Và với tôi, đây cũng là một trong bốn bài thơ hay nhất ở tập thơ này. Những hình ảnh, từ ngữ thật dân dã, quen thuộc, nhắc cho ta nhớ đến các nhà thơ lục bát hồn quê trước đây. Dân dã, gần gũi là thế, song thật lạ lùng đọc lên không hề bị nhàm chán, sáo mòn, dù vẫn đậm nét hồn vía ca dao. Ở đó, Trần Nguyên Quyền mượn cảnh thu để bộc lộ tâm trạng về một mối tình không trọn vẹn, hay tình cảm đơn phương. Khoái đấy, nhưng gã giai tơ Trần Nguyên Quyền chỉ nhìn, không dám thổ lộ. Hình bóng, và “hương vị” ấy vẫn còn luẩn quất đâu đây, dù thời gian đã xa vời vợi. Bài thơ có bố cục khá chặt chẽ, và khổ thơ nào cũng có từ ngữ, hình ảnh hoán dụ đẹp, nên tôi không thể cắt, trích dẫn đành để nguyên vẹn cả bài, dù hơi dài trong khuôn khổ bài viết:
“Heo may lạc giữa hàng cau
Chợ quê dăm tiếng rao nhau gọi mùa
Người về đội nắng đường trưa
Áo nâu quệt gió, gánh mùa cỏ rơm! (quệt gió, hay quyện gió?)
Chiều quê lúa thoảng hương thơm
Trâu no cỏ ngủ bên đầm ao trong
Đò ngang chậm mái chèo cong
Khói lam, vệt nắng tím loang vườn cà.
Em đi yếm thắm thướt tha!
Lá rơi mắc lối làm ngơ ngẩn lòng
Mùa thu nhặt bước thong dong (Mùa Thu- tôi đã chữa thành Mùa thu)
Ngõ quê còn giữ mùi hương rượu nồng.”
Không có nhiều tác giả viết về thơ thế sự xã hội, ngoài Lê Thanh Châu, Sa Huỳnh… tôi đặc biệt khoái bài ngũ ngôn: Hà Nội 2023 của Đặng Thị Hương. Bởi, lời thơ với những khẩu ngữ, hình ảnh so sánh châm biếm nhẹ nhàng thôi, nhưng đọc thấy bùi ngùi đớn đau, trước Hà Nội cùng những nghịch lý đang xảy ra. Việc thay đổi cách ngắt nhịp từ 2/3 sang 3/2 làm cho câu thơ tiết tấu nhanh, giàu cảm xúc. Tuy nhiên, bài thơ này có câu: “Ngựa xe thời như nước/ Áo quần thời như nêm” nguyên từ: “Ngựa xe như nước áo quần như nêm” (T. Kiều) của Nguyễn Du. Biết rằng, Hà Nội 2023 là thơ giễu nhại, mỉa mai về thủ pháp nghệ thuật Đặng Thị Hương được phép mượn, sửa hay bắt chước phong cách thơ của ca dao, hay tác giả khác. (tuy nhiên, cho sòng phẳng cũng nên đóng mở ngoặc câu thơ này lại sẽ sáng hơn). Dù vậy, với tôi Hà Nội 2023 vẫn là bài thơ viết về mảng thế sự xã hôi hay ở tập 3 Thơ Việt Ở Đức:
“…Dân số gần chín triệu
Hà Nội đông hơn xưa
Nhà cao tầng san sát
Người vẫn vô gia cư (…)
Cây xanh bị bức tử
Chim chóc tuyệt chủng rồi
Hà Nội hiện đại lắm
Chỉ còn bê tông thôi
Mấy ngàn năm văn hiến
Cứ thoải mái tự hào
Hà Nội không vội được
Xin đừng hỏi vì sao?
Nhà nhà treo cờ đỏ
Phố nào cũng văn minh
Đói nghèo là tại số
Đừng trách Đảng quang vinh.”
Về mảng thơ triết lý, đường luật, thơ dịch, có thể nói: Thế Dũng, Trương Anh Tú, Thế Tuyền, Bùi Nguyệt, Nguyêt Trăng Thu (gớm thật, bút danh đã nguyệt, rồi còn trăng)… vẫn là những cây bút có những đường nét riêng biệt, đưa đến nhiều cảm xúc khác nhau cho người đọc. Hùng hậu nhất vẫn là thơ tình yêu đôi lứa, tình yêu cha mẹ gắn với quê hương đất nước. Tuy nhiên, về mảng này, còn một số tác giả thiên về tả và kể, thiếu cái tình ở đó. Nói về thi ca các cụ nhà ta có câu: Tức cảnh sinh tình. Cho nên, nói chúng ta mới làm được cái vế đầu là vậy.
Có một điều lạ nữa, danh từ chung: xuân, hạ, thu, đông trong tiếng Việt không được (hay không phải) viết hoa. Trừ khi nó trở thành danh từ riêng của những biểu tượng, hay mang tên lễ hội nào đó. Hoặc trong thi ca có thể tác giả viết hoa nhằm nhấn mạnh tình cảm, tôn trọng chỉ trường hợp đặc biệt nào đó. Nhưng trong suốt tập thơ đều in hoa những danh từ: xuân, hạ, thu, đông, dù có đứng ở bất kỳ vị trí, tâm trạng, tình cảm nào trong câu. Có lẽ, do có sự lầm lẫn danh từ tiếng Đức buộc phải viết in hoa, nên các bác phệt luôn vào cho tiếng Việt chăng? Ơ hay, chúng ta đang làm thơ bằng tiếng Việt cơ mà. Chẳng lẽ, tác giả nào cũng nhầm?
*Nhắc lại câu chuyện vui thay cho lời kết.
Hôm trước Tết vừa rồi ở nhà bác Đình Dũng Berlin (Dũng Lợi) đang lúc khật khừ có bác dáng vóc, mặt mũi rất hầm hố (với tay) vỗ độp vào vai tôi một phát, hỏi:
- Ông thấy thơ Thế Dũng dạo này thế nào?
Bị giật thót cả người, tôi có chút bực mình, nhưng trong bàn nhậu giữ hòa khí, cố nhịn và cười gượng. Chưa kịp trả lời, gã đã tiêm thêm đầy vại bia cho tôi và bảo:
-Tôi đã đọc những bài viết của ông về Thế Dũng rồi. Khoái. Song tôi vẫn thấy thơ Thế Dũng hư ảo, mơ hồ, khó hiểu quá.
Thấy gã có vẻ ham đọc, trái hẳn với dáng vóc, tôi dịu lại ngay. Tuy nhiên, câu hỏi thật khó trả lời, nhất là trong lúc rượu bia đã tưng tửng. Thấy gã rướn mắt có vẻ chờ, tôi đành ực nốt cốc bia với gã, đùa:
-Thời gian gần đây đọc những gì Thế Dũng viết ra phải thật chậm, ngẫm nghĩ, đôi khi phải mang từ điển, sử liệu, điển cố ra để tra cứu, chứ không như trước đây: “Cởi trần mà bắn thôi/ Trời xanh kia là áo”. Trần trụi, sảng khoái như vậy, ai cũng có thể thấy, thể hiểu, đọc phát thấy sướng Thế Dũng ngay. Đến bây giờ thơ tâm trạng, bất chợt, mang mang hồn vía hào khí sử thi, chẳng khác nào Thế Dũng cuộn mình, trùm chăn kín mít nhả đạn, làm cho bác đọc thấy khó hiểu thì cũng phải thôi:
“Thần mã truy phong thấu biên ải
Cuối trời thương xót mấy chân mây?
Biền biệt tha hương rồi trở lại
Ngày về rượu lệ men đắng cay
Biên thuỳ từ thuở trai Phù Đổng
Tre ngà vụt hiện hóa gươm đao
Thánh Gióng bao phen phi thánh mã?
Non sông bất tử khí anh hào” (Tựa hồ hóa giải những thương đau)
Nghe xong, gã gật gù: Có lẽ sắp tới phải tìm đọc, và học sử sách, điển tích ông ạ. Thì ra, làm thơ năng khiếu không còn chưa đủ, mà cần phải đọc nhiều, và có kiến thức sâu rộng nữa ông nhỉ!.
Tôi nghĩ, gã này đốc chứng, có lẽ lại muốn học làm thơ rồi.
Leipzig ngày 15.8.2026
Đỗ Trường
|