SỐ 112 - THÁNG 10 NĂM 2026

 

Giới Thiệu Sách Mới

Văn Nghệ Biển Khơi trân trọng giới thiệu:

Đời Thủy Thủ 3

Truyện dài
Vũ Thất

1

Thiết kế bìa: Uyên Nguyên Trần Triết
Dàn trang: Đỗ Huỳnh Đăng Ngọc
Biên tập: Trần Thị Nguyệt Mai
Nhà xuất bản Nhân Ảnh, California, Hoa Kỳ – 2026
Sách dày: 524 trang, Ấn phí: 40 USD
Mua sách xin liên lạc tác giả: vuthat@yahoo.com
Tác giả giữ bản quyền

*****

ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ

2

 

Vũ Thất Võ Văn Bảy
Sinh quán Tân Châu, Châu Đốc.
Cựu Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Tác phẩm đã xuất bản:
Đời thủy thủ (1969 - 2012),
Trong cơn bão biển (1969),
Một dòng sông cho chiến đĩnh (1974)
Đời thủy thủ 2 (2023)
Đời thủy thủ 3 (2026)

Sẽ xuất bản:
Tập truyện Chào Mẹ
Đời thủy thủ 1 (Tái bản lần 2)

 

oOo

Lời Tựa

Trần Doãn Nho

“Đời Thủy Thủ”, bộ tiểu thuyết dài ba tập, tập 1 được khởi viết ở Việt Nam từ những năm cuối thập niên 1960, nối tiếp với tập 2 (2023) và hoàn tất với tập 3 (2026), trước sau xấp xỉ… 60 năm. Tuy dưới dạng hư cấu, nhưng xuyên qua vô vàn chi tiết cụ thể và sống động về mọi mặt sinh hoạt và chiến đấu của nhân vật chính, người đọc nhận ra ngay một phần lớn câu chuyện được hình thành từ cuộc đời của tác giả. Đọc “Đời Thủy Thủ” chẳng khác gì đọc cuộc đời của một người sĩ quan hải quân VNCH trong cuộc chiến đấu thường xuyên trên biển khơi để bảo vệ lãnh hải của đất nước.

Trong tập “Đời Thủy Thủ 3”, nhân vật chính, lúc này được bổ nhiệm làm hạm trưởng, trực tiếp chỉ huy một chiến hạm “dài 50 thước, rộng 8 thước, trang bị một khẩu đại bác 76 ly, hai khẩu 40 ly cùng với 7 sĩ quan và 60 thủy thủ”. Được xem là một “thế giới cô lập giữa đại dương mênh mông”, số phận của chiếc chiến hạm gắn liền với số phận hạm trưởng. Và ngược lại, số phận của hạm trưởng cũng gắn liền với chiến hạm: hạm trưởng phải “hòa làm một với con tàu”, phải “ăn, ngủ, hành quân cùng nó” và “cùng sống chết với nó”. Trong tinh thần trách nhiệm cao độ, nhân vật hạm trưởng đã chỉ huy con tàu đối phó với nhiều tình huống bất ngờ đủ loại khác nhau trên biển, trải dài từ vùng duyên hải phía cực Nam cho đến vùng duyên hải phía Bắc. Khi thì cứu vớt ngư dân bị nạn, khi thì bắt bọn buôn lậu quốc tế, khi thì chống cuồng phong, khi thì chống kẻ thù xâm nhập, khi thì vượt tuyến đưa lính Biệt Hải xâm nhập đất địch làm công tác tuyên truyền, vân vân.

“Đời Thủy Thủ 3” đồng thời cũng là câu chuyện về một cuộc tình “không giống ai” của nhân vật hạm trưởng tài năng và đa tình.

Với một văn phong trong sáng, trữ tình mà những nét đặc sắc nhất được thể hiện qua phần đối thoại duyên dáng, thông minh và hóm hỉnh, tác giả dựng nên một cuộc “đấu tình” và “đấu trí” thú vị: anh vừa tìm cách chiếm trọn trái tim của một cô giáo trong một cuộc tình tay ba mà anh là người lép vế; lại vừa tìm cách thuyết phục ông già vợ tương lai nghiêm khắc và khó tính bằng tình yêu chân chính và sự kiên trì của chính mình.

Rốt cuộc, anh đã thành công cả trong sự nghiệp lẫn trong tình trường:

Võ Bằng cúi xuống hôn lên tóc vợ.
– Anh hứa giữ cho em hạnh phúc này mãi mãi.
Như Oanh ngước nhìn anh, giọng rất êm:
– Mình trọn đời cùng giữ, nghen anh! (Chương Kết)

Kết thúc có hậu này khiến tôi nhẹ lòng sau khi trải qua những giờ phút căng thẳng theo dõi số phận của nhân vật, nhưng đồng thời cũng mang lại cho tôi một cảm giác ngậm ngùi: cặp đôi tràn trề hạnh phúc trong thời điểm ấy (6/1972) – cũng như cặp đôi của không biết bao nhiêu quân nhân VNCH khác – trớ trêu thay, không lâu sau đó, phải gánh chịu những oan khiên và khổ nhục theo vận nước nổi trôi kể từ biến cố tháng 4/1975…

Nhà văn Trần Doãn Nho

 

oOo

Lời giới thiệu truyện dài Đời Thủy Thủ 3

Trần Quang Thiệu

Một buổi chiều đầu Xuân Bính Ngọ, tôi bất ngờ nhận được bản thảo truyện dài “Đời Thủy Thủ 3” của Vũ Thất, người bạn cùng khóa Hải Quân kèm với lời ngắn gọn: “Nhờ bạn góp cho lời giới thiệu”.

Năm 2012, khi tác giả Vũ Thất cho tái bản “Đời Thủy Thủ” tại Hoa Kỳ, tôi đã có dịp nêu cảm tưởng: “Tôi hầu như đã không còn nhớ gì về đời sống cũ nơi quê nhà, thế nhưng mới lướt qua vài chương, lòng tôi chùng xuống với ánh hải đăng mũi Kê Gà chớp tắt trong đầu cùng nhịp đập của trái tim. Tôi bâng khuâng nhớ về dòng Hậu Giang cuồn cuộn chảy ra cửa Định An bên sâu bên cạn, và thẫn thờ như đang nhìn thấy sóng bạc đầu ngoài khơi nhấp nhô đưa hồn bồng bềnh chìm vào dĩ vãng. Và tôi chợt hiểu, mười bốn năm mang đời thủy thủ trước đây chính là cuộc đời tôi còn ấp ủ trong tim.”

Sau hơn 50 năm xa xứ,  người bạn cùng khóa của tôi vẫn nhớ rành rẽ hải nghiệp của mình. Nếu ở “Đời Thủy Thủ 1” anh kể về hải vụ của một sĩ quan Hải Quân mới ra trường, hơn năm mươi năm sau, trong “Đời Thủy Thủ 2“, anh mô tả về những nhiệm vụ tiêu biểu của một Hạm Phó, và giờ đây, trong “Đời Thủy Thủ 3“, về sinh hoạt của một chiến hạm dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng. Cả ba quyển đều không quên… hoa biển và tình yêu thủy thủ.

Hạm Trưởng, một chức vụ mà bất cứ một sĩ quan hải quân nào cũng mong ước để được mang trên ngực huy hiệu mỏ neo với ngôi sao cùng hàng chữ “Magister Post Deum” (Master Under God – Trên Là Trời Dưới Là Ta). Đó là huy hiệu Hải Quân quốc tế. Nhưng ta khiêm tốn, thay thế ba chữ đó bằng “Danh Dự – Kỷ Luật – Tài Đức”.

“Đời Thủy Thủ 3” mặc dù không phải là một hồi ký chiến tranh nhưng cũng đã đề cập hầu hết các biến cố xảy ra trên lãnh hải Tổ Quốc từ giữa thập niên 60 cho đến đầu năm 1970.

“Đời Thủy Thủ 3” ghi lại những cảnh tuyệt đẹp ở bờ xa bến lạ của quê hương, những lịch sử và giai thoại về các hải đảo mang tên Hòn Thơm, Bà Lụa, Hải Tặc, Nam Du, Thổ Châu, Cù lao Thu, Cù lao Chàm cũng như tứ linh cồn: Long, Lân, Quy, Phụng trong sông. Và nhiều nữa…

“Đời Thủy Thủ 3” còn là một tác phẩm trữ tình, nhưng không phải “mười hai bến nước, mười hai bến tình” mà thủy chung như nhất: “càng đi xa anh càng nhớ em”.

Vũ Thất đã kết hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật hải quân, nghệ thuật hải chiến, lịch sử, tâm lý, tạo một bối cảnh mượt mà như bình minh trên đại dương:         

- Biển của chiến thuật – nơi mỗi hải đảo đều có giá trị của nó;
- Biển của thủy thủ đoàn – nơi mỗi người một việc, một nghề: giám lộ, hải pháo, an ninh, cơ khí, thám xuất, truyền tin, vận chuyển…
- Biển của tâm lý – nơi mỗi đêm trực là một cuộc chiến với chính mình;
- Biển của văn hóa – nhiều huyền thoại, giai thoại mang linh hồn hải đảo
- Và biển của tình yêu – sâu xa, bất định, nhưng nhiệt thành.

Chính nhờ biển mà câu chuyện có sức sống, có hơi thở, và có độ ngân rất riêng.

Hãy sẵn sàng cho một chuyến đi không chỉ qua các hải đảo xa khơi mà còn đi sâu vào các trận hải chiến, các tầng cảm xúc, những suy tư của những người chọn cuộc sống hải hồ.

Hải trình đang chào đón bạn đọc.

Xin mời cùng ra khơi…

Trần Quang Thiệu – Khóa Đệ nhất Bảo Bình
http://vinasoft.com/
California, tháng 5/2026

oOo

Lời Bạt cho “Đời Thủy Thủ 3”

Liễu Trương

Nơi nào có con người chung sống với nhau, họp thành một cộng đồng lớn, nơi đó có nghệ thuật. Vì con người không chỉ có những nhu cầu vật chất mà còn có những nhu cầu tinh thần, thiêng liêng.

Sau biến cố tháng 4 năm 1975, đông đảo người Việt rời xa quê hương, đi tìm một đất mới để sinh sống. Chẳng bao lâu một cộng đồng hình thành và lớn dần, các ngành nghệ thuật, nhất là văn chương, nhanh chóng đồng hành với người Việt lưu vong.

Trong lĩnh vực văn chương, nhiều thế hệ cầm bút nối tiếp nhau để sáng tạo, khởi đầu chủ đề lòng đau buồn luyến tiếc quê hương được khai thác tận cùng. Nhưng vì phải sống trong một không gian mới, nên trước mắt họ là một chân trời mở rộng với những nền văn minh xa lạ, những ngôn ngữ mới khiến họ choáng ngợp trước những chất liệu viết ngồn ngộn. Cuộc sống mới đã đưa họ đến với những chủ đề sáng tạo mới.

Riêng một tên tuổi đứng biệt lập, không theo tiếng gọi của những cái mới lạ của xứ người, mà quay về quê mẹ, để làm sống lại cái thời chinh chiến, không ở trên đất liền như những cây bút quân đội đã từng bàn đến trước đây, mà đặc biệt ở ngoài biển khơi, thời chinh chiến không trên lãnh thổ Việt Nam mà trên lãnh hải Việt Nam. Tôi muốn nói đến nhà văn Vũ Thất, một cựu sĩ quan Hải quân của Quân lực VNCH, một thủy thủ sống bềnh bồng trên biển cả và… cầm bút.

Trước năm 1975, Vũ Thất là tác giả của những tác phẩm :

– Đời Thủy Thủ (xuất bản năm 1969)
– Trong Cơn Bão Biển (xuất bản năm 1969)
– Một Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh (xuất bản năm 1974)

Sau này, khi Vũ Thất sống ở hải ngoại, tác phẩm Đời Thủy Thủ bất ngờ được nối dài, và dài thật vì chẳng những có Đời Thủy Thủ 2 mà còn có Đời Thủy Thủ 3, tạo nên một bộ trường thiên tiểu thuyết rất hấp dẫn.

Nhân vật chính của bộ trường thiên tiểu thuyết này là một chàng thanh niên tên Võ Bằng 22 tuổi, đẹp trai như tài tử màn ảnh Burt Lancaster, và là một thủy thủ can trường, đặt bổn phận trên hết. Từ một thiếu úy Hải quân trong Đời Thủy Thủ được nhiều người đẹp mê say và có những mối tình lãng mạn, Võ Bằng được thăng cấp trung úy và làm hạm phó của chiến hạm HQ 007, tức Hộ Tống hạm Đống Đa trong Đời Thủy Thủ 2. Cuộc đời thủy thủ của Võ Bằng sẽ êm đẹp biết bao nếu không gặp một vấn nạn do sự hiện diện của một kẻ lạ mặt trên chiến hạm của mình.  Kẻ lạ mặt là một nữ đặc công của Việt cộng được lệnh làm nổ chiến hạm HQ 007. Võ Bằng bị phạt kỷ luật 3 năm. Nhưng chịu hình phạt được hai năm thì tình cờ được thăng chức hạm trưởng để điều khiển trợ chiến hạm Rạch Gầm HQ 266.

Đến đây, độc giả đi vào Đời Thủy Thủ 3, đi theo cuộc hải hành khá dài và lý thú của hạm trưởng Võ Bằng 28 tuổi.

Chính trong Đời Thủy Thủ 3 nhà văn Vũ Thất đã thật sự tỏ hết tài năng kể truyện của mình, qua cấu trúc truyện và nghệ thuật tự sự.

Truyện được cấu trúc theo hai chủ đề : tình yêu chung thủy và sự dấn thân của một người trai thời chiến.

Trong chủ đề thứ nhất, tình yêu chung thủy, có bóng dáng ba người phụ nữ tượng trưng cho ba nơi cập bến của Võ Bằng. Người phụ nữ thứ nhất bị mất căn cước, mất tự do sống, vì đã làm đặc công cho Việt cộng, chỉ được tồn tại dưới những cái tên giả : Phan Kim Phượng, Lê Hồng Hạnh. Người phụ nữ này không thật sự sống, cho nên không có tình yêu.

Người phụ nữ thứ hai là Lan Như, một cô nhà báo xinh đẹp, thông minh, lanh lợi, đã từng thực hiện một thiên phóng sự về một cuộc hải chiến của chiến hạm Rạch Gầm. Nhà báo Lan Như trở nên nổi tiếng và chỉ sống cho nghề nghiệp của mình. Còn thì giờ đâu cho tình yêu.

Đến người phụ nữ thứ ba thì thật là tình yêu tuyệt vời đối với Võ Bằng. Định mệnh đưa đẩy Như Oanh và Võ Bằng gặp nhau trong một bữa tiệc, khi Võ Bằng đến bến ở An Thới để nhận lãnh chiến hạm Rạch Gầm, rồi họ gặp lại nhau ngoài bãi biển. Tình yêu lớn dần giữa đôi bên. Nhưng Như Oanh và Võ Bằng có thể nào đi xa hơn trong tình yêu của họ không? Vì lẽ cuộc sống của hai người quá khác biệt. Như Oanh có nghề nghiệp vững vàng, đời sống an toàn, và sắp đính hôn với Thứ trưởng Vinh, tất cả đã được gia đình đôi bên sắp xếp hẳn hòi. Còn Võ Bằng sống lênh đênh ngoài biển cả, trôi giạt nay đây mai đó để làm tròn nhiệm vụ của một người thủy thủ gắn bó với lãnh hải Việt Nam. Nhưng bất ngờ Như Oanh đã làm đảo lộn thứ tự tương lai của đời mình. Cô từ giã Vinh, con người thuộc giới giàu sang, chỉ quý trọng tiền tài, danh vọng. Như Oanh chấp nhận cuộc sống đầy bất trắc với Võ Bằng, và đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách. Nhất là khi Võ Bằng sau cuộc hải chiến ở Trường Sa bị thương nặng và chìm vào cơn hôn mê trong một năm trời. Như Oanh, người con gái có tâm hồn cao thượng, chung thủy, vẫn chờ đợi, chờ đợi trong lo âu, hồi hộp. Và cuối cùng tình yêu thủy chung đã đưa đến hạnh phúc.

Chủ đề thứ hai là sự dấn thân của một người trai thời chiến. Khi được giao phó trách nhiệm điều khiển chiếc trợ chiến hạm Rạch Gầm HQ 266, Võ Bằng ý thức trọng trách của mình về an ninh của lãnh hải. Người thanh niên này không màng đến danh vọng, không tự đặt câu hỏi: đời mình sẽ ra sao sau này ? Không. Võ Bằng say sưa chiến đấu, ngày đêm đứng trên đài chỉ huy, truy lùng những chiếc tàu địch lén lút cập bến để tiếp tế vũ khi cho giặc, hoặc ra sức tác chiến tứ bề, đôi lúc bị những trận cuồng phong gây khó khăn, vất vả, và cuối cùng xông pha vào chiến trận ở Trường Sa.

Ngoài ra, nghệ thuật tự sự của Vũ Thất có những đặc điểm khiến truyện trở nên lôi cuốn. Thứ nhất tác giả dùng trải nghiệm của riêng mình là một thủy thủ kỳ cựu, nhờ thế cốt truyện có tính thuyết phục, độc giả không có cảm tưởng đây là một truyện tưởng tượng.

Đặc điểm thứ hai là miêu tả cái đẹp cuốn hút của một không gian ngoài biển cả :
Gió nhẹ nhàng như hơi thở của đại dương. Ánh nắng dát vàng lên mặt vịnh, nước trong vắt để lộ một thế giới vô cùng kỳ ảo: những rạn san hô hình nấm màu tím ngát đến những rạn như cành cây màu đỏ rực, các bụi cỏ biển mềm mại uốn lượn… (Chương 19)
Ánh sáng hồng của hoàng hôn kéo một vệt dài trên mặt biển, lao xao như dải lụa mềm tan vào sóng nước. (Chương 25)

Đặc điểm thứ ba là các quần đảo, hòn đảo đều được trình bày về nguồn gốc lịch sử hoặc theo những huyền thoại, giai thọai được truyền lại. Ví dụ khi chiến hạm Rạch Gầm đến đảo Thổ Châu, thì được xã trưởng cho biết nguồn gốc tên đảo: theo ông bà truyền lại thì thời Nguyễn Ánh Nguyễn Huệ đánh nhau, Nguyễn Ánh yếu thế bôn tẩu ra đây và đặt tên đảo là Thổ Châu có nghĩa là đất quý. Còn bãi biển quanh đảo là nơi Nguyễn Ánh thường họp bàn về thế sự được gọi là Bãi Ngự.

Cũng như việc tác giả giải thích lịch sử tên đảo Phú Quốc và tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cùng địa lý các nơi này, về sau có thể giúp các thế hệ trẻ hiểu biết thêm đất nước của mình.

Cách trình bày hải đảo về khía cạnh địa lý và lịch sử như thế càng làm tăng giá trị của truyện.

Tóm lại, trong Đời Thủy Thủ 3, nghệ thuật kể truyện và miêu tả của Vũ Thất đạt đến đỉnh cao, khiến lãnh hải miền Nam trở nên sống động, lôi cuốn và như có tiếng gọi của non sông.

Bộ trường thiên tiểu thuyết của Vũ Thất làm liên tưởng đến một ngọn pháo bông: với Đời Thủy Thủ 1 và Đời Thủy Thủ 2 pháo bông được châm ngòi, với Đời Thủy Thủ 3 ngọn pháo bông tung lên trời, nở ra thành muôn nghìn bông pháo rực rỡ.

Liễu Trương
Paris, tháng 5-2026

 

oOo

Đời Thủy Thủ 3 –
Chuyến đi chưa rời khỏi biển

Vũ Hoàng Thư

Biển cả trước mặt người thủy thủ hình như lúc nào cũng xanh thẳm, mênh mông tựa hồ mắt ai lóng lánh gọi hồn. Có những buổi sáng nước im sững dưới nắng, chân trời cuối tầm nhìn, kéo thành đường tơ mỏng chia trời và biển. Chiến hạm rời hạm kiều bỏ lại phía sau bến ghé, mái nhà và bóng người đứng đợi. Chút bình yên mong manh chen giữa những chuyến hải hành nào ai biết được sóng gió như thế nào trước ngày về. Chính từ khoảng xanh của biển tưởng chừng vô tận ấy, một đốm sáng lóe lên, một tiếng nổ bất ngờ xé rách không gian, một công điện thượng khẩn có thể đổi hướng con tàu, đổi luôn cả số phận những người đang đứng trên boong.

Đọc Đời Thủy Thủ 3 của Vũ Thất, có lúc tôi tưởng mình đang mở lại tấm hải đồ cũ của một đời người. Trên đó những đường tàu đi qua, những hải đảo xa mờ, những vệt chì ghi độ sâu, những vùng nước hiểm nguy và cả một tọa độ khuất lấp, nơi một lỗi lầm từng xảy ra rồi nằm mãi trong tâm tưởng người sĩ quan như xác một con tàu chìm chưa được vớt lên.

Võ Bằng bước vào truyện từ lỗi lầm ấy. Một nữ đặc công mang bom lên Hộ Tống Hạm Đống Đa HQ 007. Sơ hở an ninh vì sự nể nang tình bạn. Chỉ một phút thôi nhưng phút ấy dài ba năm ngưng thăng cấp, ba năm không được giữ chức vụ chỉ huy, và có lẽ dài hơn thế nữa trong lòng một người sĩ quan chỉ huy. Con tàu đi lệch một độ còn có thể sửa lại hướng. Một quyết định đi lệch khỏi trách nhiệm đôi khi phải dùng cả quãng đời còn lại mới mong tìm về đúng tuyến.

Võ Bằng đã trở về như vậy khi bước lên Rạch Gầm. Khi được trao quyền chỉ huy Rạch Gầm, Võ Bằng không chỉ bước lên một chiến hạm. Ông bước trở lại con đường danh dự của mình.

Từ giây phút nhậm chức hạm trưởng, mỗi chuyến công tác không còn đơn thuần là thi hành quân lệnh, mỗi quyết định trên đài chỉ huy là một lần ông trả lời với cấp trên, với thủy thủ đoàn và với chính mình: liệu con người đã từng lầm lỗi kia có khả năng bảo vệ sinh mạng của thuộc cấp, bảo vệ quê hương giữa một vùng biển đầy bất trắc?

Ngoài đại dương, chiến hạm là một thế giới riêng rẽ lênh đênh trên mặt nước. Hạm trưởng đơn độc Trên Trời Dưới Ta, Magister Post Deum, chỉ mình ông quyết định khi một đốm lạ hiện trên màn radar, khi hải lưu đẩy tàu về phía rạn san hô, khi một quả đạn lóe lên từ bóng tối. Có khi phải ra mệnh lệnh trước khi nỗi sợ hãi kịp thành hình vì những quyết định chỉ chậm vài phút, con tàu sẽ biến thành một khối sắt nằm yên dưới đáy biển. Hạm trưởng là người đứng cao nhất trên đài chỉ huy với tất cả trách nhiệm sau cùng trên vai.

Võ Bằng bắt đầu lập công qua từng việc nhỏ nhưng bền bỉ. Tư cách chỉ huy của ông phát xuất từ những điều ít ồn ào như một lần không bỏ chiến hạm bạn, một lúc biết ngưng truy kích trước vùng nước nguy hiểm, một quyết định kiềm chế tiếng súng để tránh hậu quả lớn hơn, một bước chân đi xuống thăm người bị thương, một thoáng lặng người trước cái tên vừa bị xóa khỏi phiên trực. Những điều nhỏ bé ấy kết tụ lại như vô số giọt nước làm nên đại dương.

Và giữa buổi lễ tuyên dương trên Rạch Gầm, có một ly rượu dành cho Hạ sĩ Trịnh Cương. Chiếc ly còn đó mà người đã không còn. Không cần một bài điếu văn hay tiếng kèn truy điệu, chiếc ly không người nâng, đã nói thay tất cả. Mặt dưới những tấm huy chương là một khoảng tối, mỗi chiến công vẫn có người không trở lại, và một gia đình từ nay nhìn biển bằng đôi mắt khác.

Chiến tranh trong Đời Thủy Thủ 3 không phải lúc nào cũng nổ súng. Đe dọa và căng thẳng nằm trong dấu sáng bất thường trên màn radar, trong tiếng máy bỗng đổi nhịp. Có khi chỉ vì một chiếc ghe đi quá gần mạn tàu. Luôn cảnh giác ứng trực chờ đợi một điều chưa xảy ra nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Ngoài kia, biển có thể xanh đến vô tội, lặng đến dịu dàng, rồi bất chợt cuồng phong nổi dậy, giấu một rạn san hô dưới làn nước phẳng, ném con tàu vào giữa bóng tối và tiếng máy gầm. Người lính biển cùng lúc phải chống với súng đạn, sóng gió, máy móc hư hỏng, sự cô lập mênh mông và chính nỗi sợ hãi nằm trong lòng mình. Can đảm là nghe nỗi sợ sệt chạy qua thân thể, rồi vẫn đặt tay lên bánh lái. Vẫn truyền mệnh lệnh. Tiến con tàu về phía tiếng súng vì biết phía trước mình là vùng biển không thể bỏ trống.

Võ Bằng không phải là tượng đồng vô tri. Ông lo âu, đau đớn và mong được sống như bao người khác. Ông còn có Như Oanh chờ đợi trên bờ.

Bảy ngày trước lễ hỏi, Rạch Gầm nhận lệnh đi Trường Sa, một công điện cắt đôi mọi dự định. Quân lệnh không cần biết trên bờ có một người con gái đang đợi chờ và hai gia đình đã sửa soạn những gì. Buổi sáng hôm sau, chiến hạm vẫn phải rời bến, một người ở lại nhìn khoảng nước sau lái từ từ khép lại.

Như Oanh đứng trong khoảng ngắn ngủi ấy nhưng nàng không chỉ là một người con gái đợi chờ. Nàng bước vào tình yêu bằng sự lựa chọn của mình, nhận Võ Bằng cùng với con tàu, thương tích và mọi chuyến đi chưa biết ngày về.
“Nếu anh chết em chịu tang. Nếu anh tàn phế, em sẽ là đôi chân của anh.”

Nếu Võ Bằng dấn thân cho đất nước, Như Oanh mang tương lai mình vào cuộc đợi chờ. Ông có thể nghe tiếng súng mở đầu và biết lúc nào trận đánh kết thúc. Nàng không biết nỗi đợi chờ bắt đầu từ đâu, kết thúc lúc nào, chống chọi với cơn biển động không tiếng sóng trong lòng.

Như Oanh không giành Võ Bằng ra khỏi biển. Nàng chấp nhận biển sẽ ở lại giữa hai người như một định mệnh. Biển trở thành nhân vật thứ ba trong cuộc tình ấy, đưa họ gặp nhau rồi chia họ xa nhau. Yêu một người lính thủy là mở trong lòng mình một bến đợi, ngay cả khi biết con tàu có thể không bao giờ hiện ra ở cuối chân trời.

Tình yêu cũng là một chuyến hải hành. Hạnh phúc của Võ Bằng và Như Oanh nằm trong sự chung thân nhận lấy sóng gió như chuyện không thể tách rời của tình yêu.

Rồi biển cả mở rộng hơn chuyện tình của hai người.

Hoàng Sa. Trường Sa. Phú Quý. An Bang. Những tên gọi từng mảnh đất quê hương dẫu khuất xa tầm nhìn sau đại dương. Chủ quyền nơi ấy không phải một đường mực vẽ trên bản đồ. Phải có sự hiện diện của chiến hạm giữa trùng khơi để gìn giữ lãnh hải của cha ông.

Vết thương của Võ Bằng tại Trường Sa cùng với biết bao xương máu của người lính biển đã đổ ra khắp vùng sông lạch, giang đoàn, duyên hải ở mọi ngõ ngách quê hương đã viết lên trang sử oai hùng của Hải quân VNCH, tiếp nối giòng máu anh hùng của Thánh tổ Trần Hưng Đạo chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Nhưng cũng chính giữa chiến tranh, Võ Bằng nhìn những tù binh đang sợ sệt và chợt nghĩ nếu mình bị bắt, có lẽ mình cũng sẽ sợ hãi như họ. Một ý nghĩ rất người, rất nhân văn thoáng qua giữa những phân chia khốc liệt. Bên này hay bên kia đều có một mái nhà để nhớ, một người thân để trở về. Hai phía cùng nói đổ máu bảo vệ quê hương, mà đâu biết máu chảy từ anh em đồng bào ruột thit... Chiến tranh có thể phân định thắng thua nhưng không thể trả lại cho đất nước những người con đã mất.

Nhà văn Vũ Thất không đi tìm những câu chữ lộng lẫy để khoác lên đời lính. Ông kể lại rõ ràng, mạch lạc, nhiều lúc như một người thủy thủ năm xưa ngồi mở lại hải trình cũ. Những quân ngữ, địa danh, tên tàu, hướng gió và dòng hải lưu chen vào trang sách như là cách tác giả giữ lại một thế giới đang lui dần vào ký ức. Ông muốn giữ lấy tất cả trước khi thời gian xóa sạch: tên người, tên đảo, tên chiến hạm và bóng dáng những người lính từng có mặt trên vùng biển quê hương.

Chúng ta bắt gặp gì sau khi đọc Đời Thủy Thủ 3? Tôi vẫn thấy chiếc ly của Trịnh Cương đứng yên trên bàn. Thấy Như Oanh bên người yêu mê man. Thấy Rạch Gầm rời bến trước ngày lễ hỏi. Thấy Võ Bằng mang theo lỗi lầm cũ bước lên đài chỉ huy, rồi từ mỗi quyết định, mỗi thương tích, chậm chậm tìm lại chính mình, từ đó biết sinh mạng người khác quý giá đến chừng nào. Đó có lẽ là phần sâu xa nhất trong tư cách một người chỉ huy, không đứng cao hơn thuộc cấp, mà đứng dưới sức nặng của tất cả những người đã tin tưởng thi hành mệnh lệnh của ông.

Chiến hạm có trở về hay không, chân trời vẫn khép một đường xa thẳm. Biển vẫn xanh như chưa từng xảy ra chuyện sống chết. Chỉ người ở lại trong lòng tàu bâng khuâng dưới màu xanh ấy có những tiếng súng đã im, những con tàu đã mất, những tên người đang chìm dần vào quên lãng.

Vũ Thất vẫn còn ra khơi, dẫu con tàu đã cập bến từ lâu, vì ông chưa bao giờ rời khỏi biển.

Vũ Hoàng Thư
Tháng 8, 2026

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026