SỐ 112 - THÁNG 10 NĂM 2026

 

Giới Thiệu Sách Mới

Văn Nghệ Biển Khơi trân trọng giới thiệu:

Tổ Quốc Trăm Năm
Hồi Ký Tiểu Thuyết
Lê Lạc Giao


1

Triết Văn xuất bản lần thứ nhất 2026
Tranh bìa & thiết kế: Đinh Trường Chinh
Dàn trang: Lê Giang Trần
Sách dày 586 trang, ấn phí: $35.USD
Tác giả giữ bản quyền
***
Mua sách Tổ Quốc Trăm Năm tại Barnes & Noble:
https://bn.com/w/1150960191
hoặc liên lạc tác giả Lê Lạc Giao: lelacgiao51@yahoo.com

oOo

Sơ lược Tiểu sử Tác giả

 

2Bút hiệu: Lê Lạc Giao -Tên thật : Lê Tấn Hà. Sinh năm 1951 tại Khánh Hòa Việt Nam
Đại học Văn Khoa ban Triết 1970-1974
Công chức chế độ cũ, sau 30-4-1975 đi tù cải tạo 8 năm
Sang định cư Hoa Kỳ tháng 3/1993
Chuyên viên Dữ Liệu công ty Boeing 22 năm
Về hưu 2017
Cư trú tại Orange County California
Các bút hiệu khác: Hồ Lạc Hồng, Lê Diên Thủy

Sách đã xuất bản:
• Một Thời Điêu Linh (tập truyện/2013)
• Nửa Vầng Trăng Ký Ức (tập truyện/2015)
• Có Một Thời Nhân Chứng (truyện dài/2018)
• Nụ Cười Buồn Mùa Hè (tập truyện/2020)
• Mùa Địa Ngục (tập truyện 2022)
• Dòng Đời (truyện dài 2023)
• Tổ Quốc Trăm Năm (hồi ký tiểu thuyết 2026)

oOo

Lời Mở Đầu

Tổ Quốc Trăm Năm, ban đầu là một hồi ký kể lại cuộc hành trình đi tù cải tạo của một viên chức chế độ Việt Nam Cộng Hòa, sau ngày Ba mươi tháng Tư Năm 1975, vào tháng Sáu 1975 cho đến ngày được tha ra khỏi trại cuối năm 1983. Tuy nhiên, do điều kiện thực tế của bản thân không cho phép tôi hoàn tất quyển sách sớm như ước muốn. Những năm về sau, thời gian kéo dài khiến một số những dữ kiện có thể quên hay không chính xác. Do đó tôi phải viết dưới dạng tiểu thuyết, cơ bản dựa trên sự kiện mà tình huống ước định có thể xảy ra, nếu không thẩm định được tính chính xác một số phạm trù liên hệ. Tôi cố gắng để không bị sai sót sự kiện với chủ trương quan điểm có thể chủ quan, nhưng sự kiện phải trình bày trung thực, không được phép hư cấu.

Tôi có quan điểm riêng về cuộc chiến tranh cũng như trại tập trung cải tạo của chính quyền cộng sản. Có thể nó không giống với mọi người, nhưng tôi hoàn toàn trung thực với những gì xảy ra với mình suốt thời gian bị cầm tù. Cuộc chiến tranh đã qua (1954-1975) là một mảng lịch sử dân tộc. Những người liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc chiến đều là nạn nhân và nhân chứng một giai đoạn bi đát của đất nước. Tôi, và những người được mô tả trong quyển sách này đều ít nhiều đóng góp, hành xử vai trò nạn nhân và nhân chứng của một vở kịch cuộc đời mà bản thân không hề có quyền lựa chọn. Và tôi thiết nghĩ bất kỳ những ai liên hệ đến cuộc chiến tranh đều không nằm ngoài hai phạm trù này, cho dù họ ở bên thắng hay thua cuộc. Hơn nữa thời gian tù tội của một con người, tự nó có ý nghĩa hay giá trị nhất định phần đời của riêng họ. Tôi cũng ước mong quyển hồi ký tiểu thuyết này là một chia sẻ, đóng góp cho dẫu nhỏ nhoi một số thông tin lịch sử của một thời đất nước mình. Nếu quyển sách còn có những sơ suất kỹ thuật đáng tiếc nào đó, mong các bạn rộng lượng bỏ qua.

Lê Lạc Giao
Tháng Ba, 2026

oOo

L ờ i  B ạ t

***

TỪ QUÊ HƯƠNG TINH THẦN
ĐẾN TỔ QUỐC TRĂM NĂM

Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Lê Lạc Giao
Vũ Hoàng Thư

Kính thưa quý vị,

Tháng Sáu, năm mươi mốt năm trước, bắt đầu bằng một lời hứa ba mươi ngày của Ủy ban Quân Quản TP Sài Gòn. Ba mươi ngày để học tập, để rồi ba mươi ngày trôi qua, tháng nối tháng, năm chồng lên năm của tù đày cải tạo, và có những người đã không bao giờ trở về. Mùa hạ năm ấy, chiến tranh được tuyên bố là đã chấm dứt, nhưng đối với hàng trăm ngàn quân cán chính miền Nam, một cuộc chiến khác vừa mở ra: cuộc chiến không còn tiếng súng, chỉ còn tường cao, vọng gác, đói rét, lao động cưỡng bách và sự chờ đợi mòn mỏi kiếp người.

Tổ Quốc Trăm Năm của Lê Lạc Giao đi ra từ mùa hạ đó. Qua nhân vật Hảo, tác giả kể lại tám năm lưu đày từ Long Thành, Thủ Đức, Tân Lập, Nam Hà đến trại Z30D. Nhưng nếu chỉ đọc tác phẩm như một hồi ký tù cải tạo, chúng ta sẽ bỏ lỡ phần sâu xa và đáng nói nhất của cuốn sách. Nhà tù trong tác phẩm không chỉ giam giữ thân xác. Nó còn tìm cách chiếm đoạt ký ức, đổi tên con người, tái định nghĩa căn cước của kẻ chiến bại và buộc họ phải nhìn chính mình qua những danh xưng do quyền lực áp đặt. Trước năm 1975, Hảo là một sĩ quan, sau đó anh trở thành “ngụy quân”, “đối tượng cải tạo”, “lao động cải tạo”, rồi “tù nhân”. Mỗi tên gọi là một vòng kẽm gai quấn thêm vào căn tính.

Vậy mà ở giữa hệ thống muốn biến con người thành một hồ sơ ấy, Hảo vẫn giữ được một vùng của riêng mình không ai xâm phạm hay giành giật nổi. Vùng ấy không có tường thành, không có bản đồ, nhưng có một cái tên thân thuộc: miền Nam. Hay gần gũi hơn nữa: Nha Trang.

Trong Tổ Quốc Trăm Năm, Long Thành, Tân Lập, Nam Hà là những địa danh của lưu đày. Nha Trang lại là nơi chốn của trở về. Nha Trang hiện lên khi Hảo ăn một chén cháo loãng mà chợt nhớ đến ông nội và mẹ. Khi gặp một người từng sống ở Đồng Đế, anh đã nghe trong giọng nói xa lạ một chút hương âm đồng điệu. Khi nhắc đến Phú Vinh, chiếc ga xe lửa cô đơn và con đường rầy chạy vào chân núi từ thời thơ ấu bỗng trở về. Nha Trang không còn là một thành phố bên ngoài song sắt. Nha Trang đã chuyển từ địa lý vào tâm thức, từ quê hương như lãnh thổ thành quê hương như ký ức.

Chính trong sự chuyển dịch âm thầm ấy, văn hóa miền Nam trở thành một quê hương tinh thần. Khi quyền công dân, tự do và tương lai đều bị tước đoạt, người tù vẫn còn thơ Đường, Truyện Kiều, Kim Dung, một câu “Hoa lạc tri đa thiểu”, một lời hát Mưa Rừng trong tiếng mưa đêm trên mái trại tù, mùi thuốc lào, ổ bánh mì Sài Gòn, một giọng nói quê nhà. Mới nghe qua, toàn là những điều nhỏ bé, tưởng chẳng có sức mạnh gì đối đầu với súng đạn và nhà tù. Nhưng đôi khi cái nhỏ bé nhất lại là nơi cái toàn thể ẩn mình. Một câu thơ có thể mở lại cả bầu trời xưa cũ. Một tiếng mưa có thể gọi về căn nhà đã mất. Một mùi vị thoảng qua cũng đủ làm sống dậy một miền Nam mà lịch sử vừa xóa tên trên bản đồ chính trị.

Lê Lạc Giao không để Hảo chống lại nhà tù bằng những hành động anh hùng khác thường. Anh chống lại sự hủy diệt bằng khả năng nhớ. Nhớ, ở đây, không phải là quay lưng với hiện tại để trú ẩn trong hoài niệm. Nhớ là giữ cho mình không bị biến thành kẻ khác. Nhà tù có thể quy định giờ thức, giờ ngủ, phần ăn, công việc và cả tên gọi của người tù nhưng nhà tù không thể ra lệnh cho một tiếng mưa phải gợi lên điều gì trong tâm trí tù nhân, hoặc một câu Kiều phải đi về đâu trong lòng người, hay Nha Trang phải chết lúc nào trong ký ức. Văn hóa vì thế là thành trì cuối cùng của nhân phẩm. Đó là hình thức phản kháng lặng lẽ nhất, mà cũng bền bỉ nhất, của con người miền Nam trước một guồng máy muốn đồng hóa quê hương với chủ nghĩa xã hội, muốn tình yêu đất nước phải đi qua một ý thức hệ duy nhất.

Từ vùng tự do nội tâm ấy, tác phẩm đi đến điểm thứ hai, mà theo tôi là tư tưởng quan trọng nhất của Lê Lạc Giao trong tác phẩm này: từ ý thức hệ đến Tổ Quốc Trăm Năm như một triết lý lịch sử hậu chiến.

Lịch sử của những cuộc nội chiến thường được viết bằng tiếng nói của người chiến thắng. Người thắng trận không chỉ chiếm lĩnh lãnh thổ mà còn giành quyền đặt tên quá khứ, phân chia chính nghĩa và phi nghĩa, quyết định ai được nhớ và ai phải bị quên. Tổ Quốc Trăm Năm được viết từ phía những người thất trận, nhưng cuốn sách không dừng lại trong tâm thế thất trận. Nó khởi đi từ nỗi đau của một cộng đồng để bước tới một câu hỏi lớn hơn: có một Tổ quốc nào rộng hơn phần đất của bên thắng cuộc, dài hơn tuổi thọ của một chế độ, và đủ chỗ cho ký ức của mọi người Việt Nam hay không?

Câu trả lời của Lê Lạc Giao nằm trong chính nhan đề tác phẩm, Tổ Quốc Trăm Năm. Tổ Quốc Trăm Năm không phải là tổ quốc của một chính quyền, một đảng phái hay một thế hệ. Đó là Tổ quốc được nhìn trong chiều dài lịch sử, nơi mọi chế độ chỉ là những kẻ tạm thời đi ngang qua. Chủ nghĩa có thể thành công hoặc thất bại, có thể đem đến vinh quang cho người này và nhục nhã cho người khác, nhưng dân tộc đã hiện hữu trước mọi chủ nghĩa và sẽ còn lại sau khi những chủ nghĩa ấy tàn phai. Vì vậy, lòng yêu nước của một Tổ Quốc Trăm Năm phải độc lập với ý thức hệ. Nó sinh ra từ nỗi xót xa trước bi kịch chung, từ ý thức rằng không phe nào có quyền thu nhỏ đất nước bằng chiến thắng của mình.

“Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta.” Tôi nghĩ đây là câu nói mang sức nặng triết học nhất của tác phẩm. Nó đảo ngược vị trí của con người trước lịch sử. Hôm nay, chúng ta thường vội vàng nhân danh lịch sử để phán xét nhau nhưng trong cái nhìn trăm năm, chính chúng ta mới là những người sẽ bị lịch sử phán xét. Điều hôm nay được dựng lên như chân lý vĩnh cửu, ngày mai có thể chỉ còn là một sai lầm. Điều hôm nay được tung hô như chiến thắng tuyệt đối, trong ký ức mai sau có thể chỉ là một vết thương dân tộc chưa khép miệng. Tổ Quốc Trăm Năm vì thế không phải là triết lý của chiến thắng hay thất bại. Đó là triết lý của sự khiêm tốn trước lịch sử.

Sự khiêm tốn ấy không đòi hỏi chúng ta quên nhà tù, xóa nhòa tội ác hay đánh đồng kẻ gây khổ đau với người gánh chịu khổ đau. Trái lại, nó buộc chúng ta phải nhớ cho đúng, phải trả lại tiếng nói cho những ký ức từng bị đẩy ra bên lề. Nhưng nhớ để thấu hiểu, không phải để dựng thêm một nhà tù khác trong tâm tưởng. Sau năm 1975, chiến tranh đã chấm dứt trên chiến trường nhưng vẫn tiếp tục trong ngôn ngữ, trong sách giáo khoa và trong cách người Việt nhìn nhau. Muốn thật sự chấm dứt cuộc chiến, chúng ta phải học cách sống với ký ức thay vì sống bằng ký ức: mang quá khứ theo mình mà không để bóng ma quá khứ giam giữ tương lai.

Ở điểm này, hai mạch tư tưởng tưởng như khác biệt của cuốn sách gặp nhau. Văn hóa miền Nam giữ cho Hảo còn là Hảo giữa nhà tù; Tổ Quốc Trăm Năm giúp anh vượt khỏi căn cước chỉ được tạo nên bởi nhà tù. Một bên bảo tồn cái riêng không được phép đánh mất: ký ức Nha Trang, tiếng nói miền Nam, nền giáo dục nhân bản, tình bạn và phẩm giá của người thất trận. Và một bên kia mở cái riêng ấy vào số phận chung của dân tộc. Không có ký ức, hòa giải chỉ là sự quên lãng do kẻ mạnh áp đặt. Nhưng nếu chỉ có ký ức mà không có một chân trời lớn hơn, con người sẽ mãi là tù nhân của thương tích. Tổ Quốc Trăm Năm chính là chân trời lớn hơn ấy.

Bởi vậy, hành trình của Hảo từ Long Thành đến ngày trở về không chỉ là đường đi của một người tù qua những trại giam. Đó còn là hành trình từ một miền Nam bị tước mất lãnh thổ đến một miền Nam được bảo tồn trong văn hóa, từ căn cước bị ý thức hệ gọi tên đến căn cước được lịch sử dân tộc trả lại, từ nhà tù của kẻ chiến bại đến khoảng trời của một Tổ quốc không thuộc riêng kẻ thắng hay người thua.

Con người có thể có nhiều quê hương trong đời, nhà văn Lê Lạc Giao viết, nhưng chỉ có một Tổ quốc. Và có lẽ sau hơn nửa thế kỷ ly tán, điều cuốn sách gửi đến chúng ta không chỉ là lời chứng về những năm tháng tù đày, mà còn là một lời mời: hãy mang ký ức trở về, đặt nó dưới bầu trời rộng hơn mọi ý thức hệ, để một ngày nào đó người Việt có thể gặp lại nhau – không phải trong bóng tối của nhà tù lịch sử, mà trong ánh sáng của Tổ Quốc Trăm Năm.

Xin trân trọng giới thiệu cùng quý vị tác phẩm Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao và xin chúc mừng anh!

Vũ Hoàng Thư
19/9/2026

 

oOo

ĐỌC “TỔ QUỐC TRĂM NĂM”

Phan Tấn Hải

Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao – người bạn học cùng thời Đại Học Văn Khoa hơn nửa thế kỷ trước – xuất hiện trước mắt tôi không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là một mảng ký ức đầy tâm sự của nhiều người cùng thế hệ. Tác giả gọi đây là một "tiểu thuyết hồi ký". Gọi là tiểu thuyết, có lẽ bởi sau nửa thế kỷ dâu bể, ký ức đôi chỗ đã mờ nhạt khó nhớ chính xác, nhưng bản chất của những dòng chữ ghi lại thực tế là một pho hồi ký chân thực rất buồn. Làm sao có thể là hư cấu được, khi lật mở từng trang sách, tôi gặp lại những gương mặt quen thuộc của Khoa Triết năm xưa: Tuệ, Hiền, Kỳ, Tân... Họ là những người bạn học nhiều tài năng và hoài bão, sau bước ngoặt của năm 1975, đã cùng Lê Lạc Giao bước vào những trại tù cải tạo dưới danh phận các sĩ quan của một Miền Nam tự do vừa sụp đổ.

Qua lời kể của nhân vật chính – có tên là Hảo -- người đọc nhìn thấy một thế giới tù ngục nơi nhìn đâu cũng là những hình ảnh bất như ý. Đó là một bức tranh chân thực đến trần trụi, về một thế giới không vui trong các trại tù. Nơi đó, họ suy nghĩ về bản thân và vận mệnh dân tộc. Họ đau đớn, nhưng vẫn rất mực yêu thương nơi họ cùng chia sẻ một tổ quốc chung với những người vùi dập họ. Xin trích lại một đoạn trong Chương 5 của Tổ Quốc Trăm Năm, như lời tự sự của tác giả Lê Lạc Giao: “Tổ quốc trăm năm là thứ tình cảm một đời của những người mang nặng trên vai gánh nợ Việt Nam tự do dân chủ, nhưng lại là những kẻ ngụy quân ngụy quyền của một ngụy tổ quốc đối với kẻ thù chiến thắng họ. Việt Nam chỉ có một, lịch sử Việt Nam cũng chỉ có một thì làm gì có hai tổ quốc. Chỉ có một tổ quốc trăm năm là tổ quốc của một đời người mang tính trường tồn vĩnh cửu. Bất kỳ một người Việt Nam nào lớn lên cũng phải có bổn phận và trách nhiệm đối với tổ quốc trong suốt cuộc đời họ.”
 
Khi bị đẩy vào thế giới tù ngục truy bức, Hảo và nhiều bạn tù vẫn thường dựa vào một thế giới của ký ức về Truyện Kiều và các truyện võ hiệp của Kim Dung. Họ nhớ tới, và họ kể cho nhau nghe. Chi tiết làm tôi suy nghĩ nhiều nhất là hình ảnh Hảo thường mượn cụ Nguyễn Mạnh Nhụ – một bạn tù vong niên – cuốn Tự Điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh để đọc. Giữa chốn ngục tù lạnh lẽo, khi tự do bị tước đoạt, tại sao một cuốn truyện thơ của ba thế kỷ trước lại trở thành một người bạn giấy mực vô hình? Phải chăng Hảo, cũng như nhiều người sĩ quan sau năm 1975, đang bị ám ảnh bởi nỗi cô đơn vạn cổ trong bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du:

Cổ kim hận sự thiên nan vấn / Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
(Khối hận cổ kim trời khó hỏi / Cái án phong lưu tớ tự mang)

Tại sao những người sĩ quan miền Nam trong những ngày tháng lao lung lại tìm về với Truyện Kiều? Câu trả lời có lẽ nằm ở sự đồng vọng của số phận. Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một thời nội chiến, gia đình ly tán đôi bờ cung kiếm, bản thân nhà thơ phải nếm trải mười năm gió bụi, có những năm phải trốn sang Trung Hoa. Những người sĩ quan cải tạo sau năm 1975 nhìn vào Nguyễn Du và chợt nhận ra chính bóng hình mình trong cuộc bể dâu ấy.

Ngôn ngữ của Truyện Kiều là ngôn ngữ của vết thương, của những thân phận bất như ý, của ly hương và bị phản bội. Vào trại cải tạo, mất đi chính thể, danh dự bị vùi dập, tương lai mịt mờ không hẹn ngày về, họ thấy mình cũng đang dấn bước vào một thập niên lưu lạc. Các dòng thơ trong Truyện Kiều – những âm vang họ được nghe từ lời ru của mẹ, được ngâm vịnh bên hiên nhà thuở niên thiếu, hay học dưới mái trường xưa – nay như dường trở thành liều thuốc xoa dịu vết thương:

Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
 

Bên cạnh những câu thơ trong Truyện Kiều, Tổ Quốc Trăm Năm còn ghi nhận về một không gian văn hóa đặc biệt khác trong tù: tiếng thì thầm kể cho nhau nghe những pho truyện võ hiệp của Kim Dung.

Tại sao lại là Kim Dung giữa bốn bức tường giam? Bởi vì những người sĩ quan thất thế ấy đã tìm thấy hình ảnh mình trong các hiệp khách bước ra từ trang sách. Họ thấy mình trong một Kiều Phong cô độc giữa thù hận triều đình, một Trương Vô Kỵ đứng giữa lằn ranh chính-tà khó phân, một Lệnh Hồ Xung lãng tử bị môn phái ruồng bỏ, hay một Dương Quá, một Tạ Tốn đầy vết thương nhưng ngạo nghễ với đời. Họ đều là những bậc anh hùng tài hoa, mang tài năng lớn nhưng bị bánh xe lịch sử vùi dập, rồi trở thành những kẻ lưu vong, bị triều đình truy đuổi.

Trong không gian truy bức đầy gian nan của trại giam, những câu chuyện về tình huynh đệ của Nhậm Ngã Hành và Hướng Vấn Thiên, hay khí phách xem cái chết nhẹ tựa lông hồng của các hiệp khách đã trở thành một vùng tự do mới. Nơi đó, cai ngục không thể chen vào, và quản giáo không thể tước đoạt. Đó là cách họ lưu giữ ký ức về tình chiến hữu, về danh dự quân ngũ và khí tiết của những chàng trai Miền Nam yêu thương tự do.

Điều nhìn thấy rõ nhất ở những người bạn của tôi trong Tổ Quốc Trăm Năm là họ không nuôi dưỡng lòng căm thù. Giữa dòng thác lịch sử vùi dập mình xuống tận đáy các đợt sóng đau buồn, họ vẫn rất mực yêu thương miền đất và dân tộc đã nuôi lớn họ. Họ nhận ra lịch sử trăm năm của dân tộc dài rộng hơn rất nhiều so với những năm tháng tù đày của cá nhân.
 
Trong tác phẩm của Lê Lạc Giao, cả Truyện Kiều và thế giới võ hiệp Kim Dung hiện lên như một ký ức văn hóa song song với đời thực. Cả hai thế giới ấy đều nói về thời loạn, nơi quyền lực chính trị và triều đình thường đại diện cho sự bất công, gian ác. Sự tương đồng ấy chạm đúng vào tâm trạng của những người tù sau một cuộc chiến huynh đệ tương tàn kéo dài nhiều thập niên.
Với hầu hết (xin nói rằng hầu hết) các nhân vật trong Tổ Quốc Trăm Năm, đọc Kiều hay kể chuyện Kim Dung trong

tù không đơn thuần là hoài niệm văn chương cho vui. Đó là một nghi thức tự nhìn thấy mình đang giữ gìn phẩm giá, là ngôn ngữ ẩn kín để diễn đạt nỗi đau, và là phương cách duy nhất để sống sót về mặt tinh thần.

Thực sự, tôi đã nhìn thấy những năm trong trại cải tạo của các bạn tôi qua lời kể trong tiểu thuyết hồi ký Tổ Quốc Trăm Năm của Lê Lạc Giao: y hệt như thân phận bất như ý của Nguyễn Du sau nhiều thập niên nội chiến và ly tán đã ngồi xuống viết những dòng thơ trong Truyện Kiều. Và tôi nhìn thấy các bạn tôi qua lời kể của các trang sách này cũng y hệt như các nhân vật trong truyện võ hiệp Kim Dung: với nhiều tài năng và hoài bão, họ đã yêu thương say đắm dân tộc mình và đã chọn xông vào một cuộc nội chiến rất mực đau đớn để rồi bị lịch sử vùi dập. Các trang sách của Lê Lạc Giao đã ghi lại những năm trong tù bi thương đó, và đã kể lại trọn vẹn mối tình say đắm và đau đớn của các sĩ quan Miền Nam với tổ quốc của họ.

Phan Tấn Hải

oOo

LÊ LẠC GIAO. VÀ TÁC PHẨM TỔ QUỐC TRĂM NĂM

Nguyễn Thị Khánh Minh

Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.

Cảm nhận của tôi sau đây là từ các chương: chương 1, chương 7, 8, 14,15,16 ,17 và Lời mở đầu, của hồi ký tiểu thuyết Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao, là những chương để lại cho tôi cảm xúc sâu đậm.

Thoạt đầu cứ tưởng Tổ Quốc Trăm Năm là một cuốn sách viết về những năm tháng tù và chốn lưu đày của bên thua cuộc sau biến cố tháng Tư 1975, nhưng càng đọc, tôi càng thấy tác giả không chỉ kể hành trình tù đày, ông đang kể một câu chuyện lớn hơn, sâu sắc hơn: thân phận con người trước vật đổi sao dời của lịch sử, cùng những hệ lụy của vấn đề ý thức hệ chính trị.

Ngay trong lời mở đầu, nhà văn Lê Lạc Giao đã xác định vị trí tư cách của người viết, “Tôi kể hoặc trình bày lại cuộc chiến tranh trong vai trò nạn nhân và nhân chứng của mình."

Và sau đó ông mở rộng: "Tôi thiết nghĩ những ai liên hệ đến cuộc chiến đều không ở bên ngoài hai phạm trù này."

Thay vì nhìn cuộc chiến qua tâm cảnh thắng-thua, ông nhìn nó bằng lăng kính nhân chứng và nạn nhân- nghĩa là Con Người. Đây là sắc thái nhân bản và nhân văn trong nhân sinh quan của tiểu thuyết gia Lê Lạc Giao.

Cũng ở lời mở đầu, ông nói "Tôi mong quyển sách là một chia sẻ hay hơn nữa một đóng góp cho dù nhỏ nhoi thông tin lịch sử của đất nước mình."

Ông không viết chỉ để kể nỗi khổ của riêng mình. Ông muốn lưu giữ một ký ức tập thể, chống lại sự lãng quên, để gửi lại cho những thế hệ sau thông tin lịch sử của đất nước, Một thái độ khách quan, công bằng và trung thực.

Những cảm nhận mà tôi có được là do cảm xúc từ tâm trạng và cách chịu đựng của tù nhân hơn là từ những sự kiện. Và, không chỉ là nỗi buồn về một giai đoạn lịch sử, mà còn có niềm tin như tác giả, rằng, phẩm giá con người có thể bị tổn thương, nhưng không dễ bị hủy diệt.

*

Tôi bị ám ảnh bởi hình ảnh những chuyến xe đêm âm thầm rời thành phố trong chương mở đầu. Những con người ấy ra đi mà không biết nơi đến, cũng không biết tương lai sẽ ra sao. Trong họ hai trạng thái tình cảm có sức công phá tâm tư ngang nhau: đó là sợ hãi và lặng im. Một sợ hãi của tay trắng, một im lặng của thúc thủ, của nghi vấn, về số phận, về cuộc sống, trước tấm lưới của tù ngục đang bổ xuống.

Qua các chương 1, chương 7, chương 8, chương 17 của Tổ Quốc Trăm Năm, tôi đã có được những yếu tố để trả lời cho câu hỏi ban đầu, làm sao tù nhân sống sót qua cuộc sinh tử ấy:

1-Họ sống sót nhờ giữ được đời sống tinh thần và sở thích riêng tư:

Để chịu đựng những khắc nghiệt của đói khát, lao động cật lực và sợ hãi, các nhân vật như Tuệ, viết nhạc ghi vào trí nhớ để mong lúc nào đó nó được hát lên, Cương dạy tiếng Pháp cho bạn tù, một nhóm đánh cờ tướng (không biết có nhắc nhở, chạnh lòng đến vai trò chốt thí trong bàn cờ quê hương?), người khác hát tình ca, một nhóm chơi đá dế. Tôi thực sự chấn động bởi hình ảnh một người trưởng thành, như Thạc, trong cảnh tù, vẫn hồn nhiên khoe bắt được con dế, dấu nó trong lon sữa bò, chờ mở cuộc đá dế, thoạt nghe tưởng là những chi tiết rất nhỏ, nhưng thực ra chúng cực kỳ quan trọng. Đó là những khoảnh khắc họ đang cố giữ lại phần người của mình. Nói cách khác, họ không để nhà tù đóng ấn, định nghĩa, con người của họ, họ khẳng định mình qua những hoạt động tinh thần ấy. Với những người có trình độ văn hóa giáo dục từ trước, họ có thêm vũ khí là ký ức văn hóa khiến họ sống sót và soay sở với tuyệt vọng, họ nói về truyện Kiều, họ đọc thơ Chiều của Hồ Dzếnh, Hồi Hương Ngẫu Thư của Hạ Tri Chương… Thử hỏi không có ký ức văn hóa ấy, thì cơm tù, luật tù đã vùi nát nhân phẩm của họ xuống bùn đen rồi, bởi những thứ đó không là một thú thưởng ngoạn, nó là nơi trú ẩn tinh thần cho những thân xác bị giam hãm.

Tôi nhớ ý câu của nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn khi viết về Gulag: có những lúc một bài thơ thuộc lòng quý hơn một ổ bánh mì, bởi bánh mì nuôi thân xác một ngày, còn thơ giữ cho tâm hồn khỏi sụp đổ. Ở nhân vật Hảo, Tuệ… tôi thấy điều tương tự.

2. Họ sống sót nhờ tình bạn:

Chính nhờ những hoạt động âm thầm trên đã nuôi nấng nên tình bạn. Họ sống sót nhờ dưỡng khí tình bạn. Quanh Hảo thường xuyên có những: Kỳ, Tuệ, Thạc, Nhượng, Tánh, Chánh, Cương... họ tồn tại một nhóm nhỏ khép kín, nhưng là một ván thuyền đỡ họ trong sóng của nghi kỵ, dòm ngó, hình phạt. Trong tình bạn ấy họ chia sẻ được cho nhau tuyệt vọng, để nhen nhúm hy vọng.

3. Họ sống sót nhờ vào khả năng suy tư:

Từ nhận xét 1, tôi đi đến yếu tố này, và điển hình là nhân vật Hảo. Anh liên tục đặt câu hỏi: Thân phận mình là gì? Lịch sử là gì? Quê hương là gì? Tổ quốc là gì? Và anh đi qua được năm tháng đằng đẵng của tù ngục. Nhà văn Lê Lạc Giao đã bộc lộ sự tin tưởng, con người có thể bị cầm tù thân xác nhưng vẫn giữ được tự do nội tâm nếu còn khả năng tư duy, và vì thế, ông đã đưa vào rất nhiều đoạn triết luận về lịch sử và định mệnh. Như nhân vật Hảo, anh phân biệt "quê hương" với "chế độ". Anh có thể bị chia ly với gia đình xã hội, mất quyền lực, địa vị, công việc, tương lai, bời sự đổi thay chế độ, nhưng anh vẫn giữ được tình yêu đối với quê hương. Điều đó giúp anh không bị hủy diệt bởi hận thù. Và, Hảo đau vì đất nước hơn là đau vì số phận cá nhân, đây là nội lực mạnh nhất giúp anh trong cuộc sống còn.

4. Họ sống sót vì còn giữ được ý nghĩa cho sự tồn tại của mình:

Ngay từ đầu nhà văn viết: "thời gian tù tội trong cuộc đời một người, tự nó có ý nghĩa hay giá trị nhất định".

Ông không xem quãng đời tù như một hình phạt đơn thuần, ông chia sẻ nó với tư cách nạn nhân-chứng nhân.

Với tư cách nạn nhân ông hiểu nó hơn ai hết, tư cách bị động của số phận bên thất thế, và nhẫn nại chịu đựng đau đớn thể xác lẫn tinh thần để -bảo vệ phẩm giá – để chờ ngày trở về với gia đình- để không bỏ cuộc – một khi sự đau khổ được gắn với ý nghĩa nó cho người ta thêm sức mạnh,
Nhà tâm lý học và cựu tù nhân trại tập trung Đức Quốc Xã là Viktor Frankl cho rằng con người có thể chịu đựng những hoàn cảnh tưởng như không thể chịu đựng được nếu họ còn nhìn thấy một ý nghĩa nào đó cho sự tồn tại của mình.

Với tư cách chứng nhân ông ghi lại nó, biến nó thành chứng từ của một biến cố lịch sử, nhưng đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi không có cảm giác mình đang đọc một bản cáo trạng, mà thấy như mình đang lắng nghe lời kể của một nhân chứng cố gắng giữ lại những ký ức có thể bị thời gian cuốn mất. Và trong những ký ức ấy, điều còn lại sau cùng không phải là hận thù, mà là câu hỏi về ý nghĩa của đời người trước những thăng trầm của lịch sử. Với tư cách này nhà văn Lê Lạc Giao đã thể hiện được sự khách quan cần thiết.

*

Qua 3 chương 14, 15, 16, điều làm tôi suy nghĩ không phải những tranh luận về thắng bại hay những lý giải chính trị của một cuộc chiến đã lùi xa nửa thế kỷ. Điều còn ở lại là những câu hỏi lớn hơn: con người là ai giữa những biến động lịch sử? Điều gì còn lại khi một ý thức hệ thất bại, một chế độ sụp đổ, một đời người bị cuốn vào vòng xoáy phi lý của chiến tranh? Và liệu lòng yêu nước có thể tồn tại bên ngoài mọi chủ nghĩa, mọi định kiến chính trị hay không?

Tác giả xoáy theo câu hỏi, ý thức hệ đã dẫn dắt chủ trương, hành động con người như thế nào. Khi quyền lực nắm công cụ ý thức hệ chính trị, xem nó là phương hướng thì con người bị nhìn như một phương tiện thay vì mục đích. Lúc ấy người ta không còn thấy một cá nhân tên Hảo, hay Tuệ, hay Thạc…mà chỉ còn thấy: đồng chí, địch, phản động, cách mạng, thắng cuộc, thua cuộc.

Nhà văn Lê Lạc Giao đã hóa giải cái nhìn ấy theo nhận xét rất nhân bản. Người lính miền Nam, người lính miền Bắc, người cán bộ, người tù cải tạo, người dân, mỗi người đều hành động trong những khuôn khổ tư tưởng, niềm tin và hoàn cảnh mà họ được sinh ra. Nhận xét như vậy, không có nghĩa xóa bỏ những hệ lụy của ý thức hệ, mà khiến người ta nhìn mọi điều xảy ra trong hoàn cảnh khắc nghiệt một cách cảm thông hơn. Tôi cho rằng đó là mấu chốt quan trọng để hai bên nhìn thấu nhau, đưa đến có thể, chuyện hội nhập.

Đây cũng là những nét mở rộng trọng tâm của tác giả ở 3 chương 14,15,16

1-Cảnh tù không phải là chính yếu, mà ở sự nhận thức của tù nhân về thân phận mình.

Nhân vật Hảo nhìn lại cuộc đời tù đày như một phần của một bi kịch lớn hơn, câu nói làm ta suy gẫm: "Quá trình chấp nhận đớn đau để rồi yêu thương này là bi kịch bản thân, hay bi kịch dân tộc?"

Phải chăng đây là một trong những câu hỏi cốt lõi của toàn bộ tác phẩm. Nếu chỉ là hồi ký tù cải tạo, câu hỏi sẽ là: "Tại sao tôi phải chịu cảnh này?"

Nhưng Hảo hỏi: "Đây là bi kịch của riêng tôi hay của cả dân tộc?"  Câu hỏi ấy đưa tác phẩm vượt khỏi phạm vi một hồi ký tù nhân.

2- Tác giả đang tìm kiếm "con người" phía sau ý thức hệ:

Có chi tiết thú vị trong chương 14, 15. Trong cuộc đối thoại với Phạm Văn Nhân, Hảo không thỏa mãn với những giải thích thuần túy chính trị: tổ chức đảng, viện trợ Mỹ, chiến lược quân sự, và còn nhìn thấy sự giới hạn của chính phía mình. Hảo không chỉ trách người chiến thắng, anh cũng chất vấn phe mình, tại sao miền Nam thất bại, điều gì đã thiếu sót, điều gì đã không hiểu được đối phương. Một thái độ trung thực, không nhằm biện hộ, kết án, chỉ cốt để hiểu, đó không phải là biểu hiện sâu sắc của tinh thần nhân bản hay sao?

Anh kéo cuộc trò chuyện với Phạm văn Nhân với câu hỏi:

"Sao anh không chút suy nghĩ đến bản chất con người Việt Nam chúng ta?" - Một câu hỏi văn học hơn là chính trị-. Bởi vì cuối cùng, chế độ được tạo ra bởi con người; ý thức hệ được vận hành bởi con người; chiến tranh được tiến hành bởi con người. Nếu không hiểu con người, thì mọi giải thích lịch sử đều thiếu sót và không trung thực.

3. Khái niệm "Tổ Quốc Trăm Năm" bắt đầu hiện rõ:

Nhất là ở chương 14, linh hồn của tư tưởng tác giả, khẳng định qua câu nói của nhân vật Hảo:  "Lòng yêu nước của một tổ quốc trăm năm hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc chủ nghĩa hay ý thức hệ."

Đây là tư tưởng mà tôi, và tôi tin cũng của nhiều người, trân trọng. Nhân vật Hảo luôn dằn vặt, tìm lại ý nghĩa của quê hương, của tự do, của nhân phẩm, và cuối cùng là của chính sự hiện hữu, và thái độ Hảo chọn -tách quê hương ra khỏi những biến động chính trị của một giai đoạn lịch sử-. Theo Hảo, tổ quốc lớn hơn chủ nghĩa, chế độ. Đó là lý do ông viết:

-"Anh chỉ có một Tổ Quốc."

Tiếng nói của một người đã đi qua tù ngục, qua sâu thẳm nhất của các trải nghiệm, để nhận ra tình yêu quê hương vượt lên mọi ý thức hệ, để từ đó đi tìm một căn cước con người hơn là căn cước chính trị.

Càng đi sâu vào tác phẩm, người đọc càng nhận ra rằng điều cứu rỗi con người không phải là thắng hay thua trong cuộc chiến, mà là khả năng giữ được lòng yêu thương, sự thấu hiểu và phẩm giá của mình giữa những biến động. Đó là chiến thắng thầm lặng nhất. Và cũng là phần nhân văn, nhân bản nhất của cuốn sách.

Khi người tù không còn chỉ hỏi "ai đúng ai sai", mà hỏi "làm thế nào để vẫn yêu được đất nước này sau tất cả những gì đã xảy ra?".  Đây không chỉ là câu hỏi của Hảo. Không chỉ là câu hỏi của Lê Lạc Giao. Mà còn là câu hỏi của rất nhiều người Việt thuộc những thế hệ đã đi qua chiến tranh, chia cắt, lưu đày, cải tạo, vượt biển, tha hương. Một câu hỏi khiến Tổ Quốc Trăm Năm vượt khỏi phạm vi của một cuốn hồi ký tù nhân, để chạm đến những suy tư rộng lớn hơn về Tổ Quốc, Lịch Sử Và Con Người.

*

Có khi nhiều năm sau, người ta quên những tên trại, quên những mốc thời gian, quên những chi tiết của câu chuyện. Nhưng người ta vẫn nhớ hình ảnh người tù đọc Truyện Kiều trong đêm, giây phút Hảo và ông Linh nói chuyện thơ Đường, Thạc và con dế than, Tuệ miệt mài viết nhạc trong thầm lặng, hai người tù ngồi nhìn nắng trên tàng cây bạch đàn trong ngày Tết thứ sáu ở tù, Hảo nghe tiếng mưa và nghĩ đến khả năng thanh lọc những nỗi đau. Mảng trời xanh nhỏ -mà bao la- từ khung cửa ngục, những câu thơ chống lưng, những tiếng nhạc thay cho hơi thở nặng, nắng vô tư trên tàng cây, tiếng mưa rơi vô nhiễm, những điều ấy chẳng phải là đáng giá hơn các học thuyết, khẩu hiệu chính trị sao?

Chính những điều ấy mà tác phẩm này cũng để lại trong tôi lòng trắc ẩn buồn bã về những số phận đã đi qua chúng, là niềm tin vào nhân phẩm, là hình ảnh một Tổ Quốc Trăm Năm đau đáu trong tâm tư suy tưởng của nhà văn:

-"Quê hương chưa bao giờ phản bội, khước từ anh."
-"Anh biết mình có quyền lựa chọn nhiều quê hương trong cuộc đời, nhưng chắc chắn một điều anh chỉ có một Tổ Quốc."

Đây là hạt nhân tư tưởng của tác phẩm Tổ Quốc Trăm Năm, có sức mạnh của một thông điệp.

Cũng là điều cuối, tôi muốn nói với người đọc: Khi bạn đọc Tổ Quốc Trăm Năm, bạn đang ở trong cuộc gặp gỡ, một bên là Tổ Quốc Trăm Năm, một bên là bạn.

- Cuốn sách giới thiệu tác giả với hai tư cách nạn nhân và chứng nhân, để kể lại, để giải thích một cách trung thực về biến cố lịch sử, về ngục tù, về thân phận con người trước thời cuộc, và cũng mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn về ý thức hệ.

- Bạn mang đến sự quan tâm về mặt nhân văn, nhân bản trong văn chương, của sự được truyền tải về thân phận con người, của sự được chia sẻ tình cảm trong trẻo về quê hương, và cái nhìn cao đẹp về tổ quốc.

Nơi hai dòng chảy ấy gặp nhau, là nơi tác phẩm này ở lại trong lòng bạn.

NTKM, Upland, tháng 6, 2024

*Tôi đọc Tổ Quốc Trăm Năm ở giai đoạn lúc chưa phát hành, nên những câu ghi chú không ghi rõ số trang, mà chỉ ghi chương sách.

oOo

Đọc Tổ Quốc Trăm Năm (Lê Lạc Giao)
Ký Ức Chống Lại Sự Hấp Thụ của Lịch Sử

Tô Đăng Khoa

Mỗi cuối tuần, nếu không có việc gì đặc biệt, tôi thường gặp anh Lê Lạc Giao bên ly cà phê quen thuộc. Chúng tôi ít khi nói trực tiếp về cuốn sách anh đang viết. Câu chuyện thường có tính tản mạn. Anh thường kể về một người bạn vừa mất, một bài thơ cũ bất chợt được nhắc lại, kỷ niệm ở Sài Gòn trước 1975, một lần trò chuyện với Nguyễn Lương Vỵ, một bài thơ tình của  Du Tử Lê, rồi từ đó mới lan sang những điều khác. Nhiều năm qua, tôi vẫn có cảm giác những cuốn sách của Lê Lạc Giao cũng được hình thành theo cách ấy. Chúng lớn dần lên từ những con người, những cuộc gặp gỡ, những ký ức tưởng như rất riêng tư nhưng bằng cách nào đó lại chạm vào một phần ký ức rộng hơn của cả một thế hệ.

Khi đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi có cảm giác gần gũi như gặp lại một dòng chảy đã hiện diện từ rất lâu trong văn nghiệp của anh. Tôi từng bắt gặp nó trong Có Một Thời Nhân Chứng, trong Nụ Cười Buồn Mùa Hè, trong Dòng Đời. Những cuốn sách ấy khác nhau về nhân vật, khác nhau về bối cảnh, về thời gian, nhưng vẫn có một điều gì đó âm thầm nối chúng lại với nhau. Nhiều năm trước tôi nghĩ điều ấy nằm ở chiến tranh. Sau này tôi nghĩ nó nằm ở thân phận. Đọc Tổ Quốc Trăm Năm, tôi không còn chắc nữa. Có những lúc ngồi với cuốn sách, tôi cảm thấy mình đang đứng trước những khuôn mặt hơn là trước những ý niệm.

Có cả một kệ sách đã hình thành quanh giai đoạn này: những năm tháng tù cải tạo sau 1975, những cuộc chuyển trại trong đêm, những năm dài ở các trại miền Bắc. Trong số đó có những cuốn ghi lại hệ thống, phơi bày cơ chế, muốn lịch sử biết điều gì đã xảy ra; có những cuốn đi sâu vào tâm lý chịu đựng, nhìn người tù như chứng nhân của chính mình; cũng có những cuốn muốn lịch sử hóa một giai đoạn chưa được ghi chép đầy đủ, muốn đưa những năm tháng ấy vào hồ sơ. Tổ Quốc Trăm Năm ra đời muộn, đi giữa các vùng ấy nhưng vẫn giữ một dáng riêng. Những trang sách về những đêm chuyển trại, về tiếng giọng Nghệ An khô khốc của cán bộ giám thị, về những buổi thuyết trình chính trị lặp đi lặp lại như đĩa hát mòn kim, đều hiện diện rất rõ. Tuy vậy, sức sống của cuốn sách nằm nhiều hơn ở những người đang sống trong hệ thống đó: cụ thể, không thể thay thế, không tan hết vào vai trò mà lịch sử gán cho họ. Đình ngồi dưới gốc bã đậu mỗi chiều nhìn về hướng Sài Gòn là Đình, người đàn ông ấy, với nỗi ngóng chờ ấy, trong chiều tà ấy. Ba Răng vàng nói với những tù nhân mới: “Gọi tôi là anh Ba cho tiện,” vì đó là cách một người cụ thể, trong một tình huống cụ thể, chọn cách nói với những người khác. Nghiệp chen lên tai Hảo nói nhỏ về tin chuyển trại, vì đó là điều Nghiệp đã làm, một lần, vào buổi chiều đó.

Tôi bị ám ảnh đoạn Hảo nhận ổ bánh mì sau nhiều năm ngoài Bắc. Lê Lạc Giao viết: “Anh chăm chú nhìn nó như gặp lại người thân bấy lâu xa cách của mình.” Tôi đánh dấu vào mép trang rồi đọc tiếp. Mấy hôm sau mở sách ra, mắt tôi lại dừng đúng chỗ ấy. Có điều gì đó xảy ra trong khoảnh khắc đó mà tôi muốn nói cho rõ hơn. Một ổ bánh mì vốn là chuyện rất nhỏ. Trong bảy trăm trang sách còn biết bao chuyện lớn hơn. Thế nhưng chính chi tiết này lại ở lại lâu nhất — ở lại trong trang sách sau khi tôi đã đọc qua, rồi ở lại trong ký ức tôi sau khi đã gấp sách lại. Và chính cái cách nó ở lại ấy là điều tôi muốn gọi bằng nhan đề bài viết này.

Lịch sử không giữ lại ổ bánh mì theo cách mà văn chương giữ lại nó. Khi đi qua lịch sử, những chi tiết như thế thường được đặt vào những phạm vi rộng hơn: thiếu thốn vật chất thời hậu chiến, sự khác biệt văn hóa Nam Bắc, chấn thương tâm lý của người tù cải tạo. Những cách nhìn ấy đều có giá trị của chúng. Chúng giúp người đọc thấy được bối cảnh lớn hơn mà chi tiết đang nằm trong đó. Tuy vậy, càng nghĩ về đoạn văn này, tôi càng thấy có một điều gì đó vẫn còn ở bên ngoài những phạm vi ấy. Đó là cái nhìn của Hảo khi nhìn ổ bánh mì. Cái nhìn của người đàn ông cụ thể này, vào buổi chiều cụ thể, sau những năm tháng mà chỉ riêng anh đã sống qua.

Khi mắt tôi dừng lại ở đoạn ấy lần thứ hai —không chủ đích — tôi bắt đầu nghĩ đến một khả năng khác. Có thể ký ức người đọc cũng vận hành theo một cách tương tự ký ức nhân vật. Hảo nhìn ổ bánh mì và nhận ra một điều gì đó vượt khỏi chính ổ bánh mì. Tôi đọc câu văn ấy rồi quay lại với nó nhiều ngày sau. Cảm giác ấy khó giải thích. Giống như có một điểm nào đó trên trang sách giữ lại lực hút riêng của nó. Điều gì xảy ra trong quá trình ấy, tôi không chắc mình hiểu hết. Nhưng dường như có một thứ được truyền đi từ kinh nghiệm sống, qua câu văn, đến người đọc mà không cần đi ngang qua nhiều tầng giải thích.

Cũng như mùi hoa xoan trong buổi sáng đầu tiên trên đất Bắc, như hũ dưa cải được gửi từ quê nhà, như người cha già lặn lội đi thăm con sau nhiều năm xa cách:  Mỗi chi tiết đều mang một đời sống riêng. Khi đọc chúng, tôi thường có cảm giác mình đang đứng trước một điều gì đó rất khó thay thế. Chỉ cần dịch nó lên một tầng khái quát hơn, một phần nào đó của nó bắt đầu nhạt đi. Có lẽ vì vậy mà những chi tiết ấy vẫn còn ở lại rất lâu sau khi câu chuyện đã đi qua những trang khác.

Vì quen biết Lê Lạc Giao ngoài đời nên tôi đọc cuốn sách theo một cách khác. Tôi biết nhiều nhân vật trong sách không xuất hiện từ trí tưởng tượng đơn thuần. Phía sau họ thường có một con người thật, một cuộc đời thật, một cuộc gặp thật nào đó. Điều ấy tạo cho tác phẩm một sức nặng riêng. Khi đọc, tôi nhiều lần có cảm giác người viết đang mang theo ký ức của những người đã từng ngồi trước mặt mình kể chuyện. Họ không hiện ra như tư liệu. Họ hiện ra như những con người mà sự hiện diện của họ đã để lại một món nợ ký ức nào đó trong người kể.

Những diễn giải về chiến tranh Việt Nam và hậu chiến sẽ tiếp tục thay đổi. Mỗi thế hệ sẽ đọc lại giai đoạn này theo ngữ cảnh mới. Những cách gọi tên, những đánh giá chính trị rồi cũng sẽ thay đổi. Nhưng có những thứ không thể thay đổi được bởi bất kỳ diễn giải nào, vì chúng tồn tại ở một tầng trước khi diễn giải đặt tên. Đình ngồi dưới gốc bã đậu nhìn về hướng Sài Gòn không cần ai diễn giải để tồn tại. Hảo nghe giọng Nghệ An khô khốc và hình dung ra một cái gì đó khô cằn, quắt queo trong đầu; chi tiết ấy tự mang theo sức nặng của nó. Ba Răng vàng cảnh báo nhóm tù mới về việc liên lạc với nhau, vào buổi trưa đó, trên con đường xuống bếp. Câu nói ấy ở lại như dấu vết của một người, một giọng nói, một hoàn cảnh.

Chữ “hấp thụ” trong tiêu đề “Ký Ức chống lại sự hấp thụ của Lịch Sử” đến với tôi khá muộn, sau khi đọc xong sách nhiều ngày. Tôi dùng nó theo một nghĩa rất giản dị. Lịch sử cần khái quát hóa để có thể trở thành lịch sử. Nó cần những mô thức, những phạm trù, những đường nét lớn. Nhờ vậy mà người đọc có thể nhìn thấy cả một thời kỳ. Nhưng trong quá trình ấy, những gì chỉ xảy ra một lần, với một con người cụ thể, thường khó giữ nguyên hình dạng ban đầu của nó. Chúng không mất đi mà sống dưới một tên gọi rộng hơn chính mình.

Đó là di sản của Tổ Quốc Trăm Năm. Những con người được giữ lại trong tính cụ thể không thể thay thế của họ, trước khi lịch sử kịp đồng hóa họ vào một danh mục. Lê Lạc Giao viết về giai đoạn này như người đã ngồi nghe — một nhân chứng của một thời điêu linh nghe những người thật kể về những năm tháng thật, rồi cúi xuống nhặt lại từng chi tiết nhỏ trước khi chúng biến mất. Ông không cần lớn tiếng với lịch sử. Có lẽ chỉ cần giữ cho những chi tiết ấy chưa mất đi quá nhanh vào trường khái niệm cũng đã là một việc rất khó.

Bởi vậy, nếu phải nói điều gì làm Tổ Quốc Trăm Năm đứng riêng trong số rất nhiều tác phẩm viết về cùng một giai đoạn, tôi nghĩ câu trả lời không nằm ở tư liệu, ở quan điểm. Điều còn ở lại sau khi gấp sách — ít nhất đối với tôi — là cảm giác vừa gặp thêm vài con người mà lẽ ra mình đã không bao giờ có cơ hội gặp. Họ bước ra từ những trang sách với đầy đủ những vui buồn, chờ đợi, thương nhớ và giới hạn của một đời người. Rồi họ ở lại đâu đó trong ký ức người đọc — theo cách một ổ bánh mì ở lại, theo cách mắt người đọc dừng lại ở một trang sách mấy hôm sau mà không biết tại sao.

Tô Đăng Khoa


 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026