SỐ 112 - THÁNG 10 NĂM 2026

 

NỖI NIỀM RIÊNG

Tôi không biết phải mở đầu câu chuyện như thế nào bởi chỉ là nỗi niềm của riêng tôi. Tôi nhớ rất rõ vào tháng 5 năm 1968 hồi ấy, nửa đêm có tiếng súng phía sau nhà, đạn bắn trúng mái ngói chát chúa làm tôi tỉnh giấc. Chưa kịp hoàn hồn, tiếng má dưới nhà la lên gọi tôi xuống. Phản xạ khiến tôi bò đến cầu thang tuột xuống cái vèo, bởi khi ấy chỉ có mình tôi nằm ngủ trên gác. Cả nhà gồm má tôi cùng sáu đứa em đã chui vào nằm gọn dưới bộ ván gõ dày, cả buổi chiều hôm qua chị em tôi cùng má đẩy bao gạo cùng các vật dụng nhặt nhạnh trong nhà làm thành cái hầm núp tránh đạn. Ba tôi từ mấy hôm trước không về nhà bởi lệnh cấm trại 100%. Nằm trong hầm tôi tiếp tục lơ mơ ngủ lúc nào không hay cho đến khi trời sáng rõ mặt người.

Tiếng léo nhéo của hàng xóm khiến chị em tôi ùa ra cửa xem động tĩnh. Cách nhà tôi hai căn là nhà vợ chồng ông ký giả một tờ nhật báo đang lăng xăng bàn bạc. Ông chồng mặt mày dáo dác bàn với mọi người phải tìm cách thoát khỏi khu xóm này. Có người đề nghị lấy miếng vải trắng vẽ chữ thập bằng thuốc đỏ cầm đi ra đường. Ông ký giả lại bảo trên lá cờ trắng phải viết chữ “báo chí”. Ông này làm như hai chữ này là “lệnh bài miễn tử” sẽ không ai dám bắn vào. Từ trong con hẻm ra tới đường lớn dẫn lên cầu Chữ Y chỉ vài trăm mét nhưng vẫn không thấy bóng người nên ai cũng rụt cổ chỉ lấp ló trong nhà. Dưới chân cầu là trại lính Địa phương quân đóng đô để bảo vệ cầu. Chiếc cầu là con đường độc đạo nối khu vực ngoại ô còn quê mùa với bên kia là phố xá rực rỡ của nền văn minh đô thị. Mọi người sốt ruột chờ đợi đến gần trưa, bỗng nghe tiếng ai đó la lên “cho đi rồi!”. Vậy là từ khắp các nẻo đường người ta chạy ùa ra như những đàn kiến, tay xách nách mang tuôn lên cầu. Mấy chị em như bị cuốn theo mọi người nên tản lạc hết. Tôi vừa chạy lên đỉnh cầu thì thấy ba tôi đứng sẵn đó. Ông thu gom từng đứa lôi vào đứng yên một chỗ bên thành cầu. Ban nãy khi chạy trên cầu nhìn qua bên trái thấy một đám cháy khói cuồn cuộn bốc lên. Thấy chỉ có mình tôi, ba hốt hoảng hỏi:

- “Mẹ tụi con đâu?”
- “Ban nãy con chạy chung với má mà, sao bây giờ không thấy??”
- “Trở lại tìm mẹ con mau!”

Tôi buông cái tay nãy gói mấy bộ quần áo xuống, quay trở lại tìm má tôi. Bà hì hục ôm cái túi trong lòng khó nhọc bước từng bước. Trong cái túi là mớ gạo bà trở lại nhà xúc đem theo. Con đông, má tôi sợ các con đói. Ba má tôi lúc nào cũng tích trữ thực phẩm, gạo hai ba bao lớn. Dầu hỏa dùng cho bếp nấu, nước mắm, đường muối đề phòng như Tết Mậu Thân giới nghiêm không có chợ búa mua bán.

Gia đình họp lại đủ đầy, ba nghe nói đánh nhau ở cầu Chữ Y, ông nóng ruột mang xe đến nghe ngóng, bị chặn lại trên cầu chỉ biết đứng nhìn và tìm được từng đứa con gom lại. Không có ba đón, chúng tôi chạy tán loạn hết chắc chắn sẽ lạc nhau.

Ba mượn chiếc xe hơi của sở, chở chúng tôi đến nhà một người bạn đồng hương đang làm lao công kiêm gác dan cho một trường trung học lớn nhất Sài Gòn. Là người cùng quê nên ba xem như anh em, đây là thói quen ông đọc trong sách thánh hiền thời xưa của người quân tử. Mỗi khi rảnh rỗi thường hay chén thù chén tạc và cư xử một cách hào sảng, không ngại tốn kém. Người bạn này được nhà trường cấp cho một gian ở cùng gia đình phía sau trường học. Nền nhà đúc cao ráo kiểu người Pháp xây dựng. Nghĩ tình thân thiết nên ba nói muốn tìm nơi cho chúng tôi ngụ tạm tránh mưa nắng chờ vài hôm qua cuộc chiến. Nghe vậy rất sốt sắng, ông gọi mấy đứa con dọn dẹp bên hông nhà, trước kia là khu vực chuồng heo trên có mái che thấp hơn nền nhà đang làm kho chứa cây ván để cho chúng tôi trú ngụ. Có lẽ thấy bất tiện nên ba đổi ý, cảm ơn người bạn và chở hết chúng tôi đi tìm nơi khác.

Hồi đầu năm trong những ngày Tết, tôi đọc báo thấy tin Việt Cộng xâm nhập trong thành phố, ở các khu dân cư lao động nghèo nàn như Bàn Cờ, Nguyễn Thiện Thuật, Sư Vạn Hạnh, Ngã tư Hàng Xanh... nhiều nhà bị cháy, người người chạy loạn không chỗ ở. Qua Tết tưởng tình hình được yên, ai ngờ bây giờ lại đến lượt xảy ra cho gia đình tôi. Khu vực cầu Chữ Y cũng chỉ là vùng ngoại ô, nhà cửa đa phần nhà tranh vách lá dân cư đông đúc, có lẽ vì vậy nên Việt Cộng dễ dàng lợi dụng để làm bàn đạp tấn công, nếu thất bại thì đem “bà hỏa” và dân chúng ra làm bình phong che chắn để trốn chạy.

Sau khi mang chúng tôi đến ở tạm nhà một người bà con trên đường Trần Hưng Đạo gần Cầu Kho, sáng hôm kế tiếp ba về lại nhà xem tình hình, lên được đỉnh cầu đến ngã ba thì bị chặn lại. Phía bên này sông là khu vực Lò heo Chánh Hưng người ta vẫn đi lại bình thường, nhưng bên kia chỉ cách một con kênh là cả khu vực nhà đã cháy thành bình địa. Có lẽ khi chúng tôi bỏ chạy ngọn lửa cất cao cháy từ hôm trước và liên tiếp cho mãi đến khi ba tôi mang xe trở về định lấy thêm ít đồ đạc, nào ngờ bị rào cản đúng lúc ông đứng đó nhìn căn nhà bên cạnh đang cháy đổ ụp sang nhà tôi. Ông nói chỉ biết đứng bó tay chôn chân tại chỗ nhìn căn nhà mình tạo dựng ra tro, lòng thê thảm rời đi.

Tôi và bà chị đang đứng trong bếp nấu cơm cho gia đình mình, chợt nghe chị Duyên con bác Tám chủ nhà nói:

- Mợ Sáu nghe tin cậu nói nhà cháy, mợ ngồi ngoài đường khóc quá trời!

(Bác có chồng thứ Tám nên tụi tôi gọi là bác Tám. Còn ba tôi là em họ của bác gái nên bác và các con gọi ba tôi là cậu Sáu theo thứ bậc của ba tôi). Tôi chạy ra thấy má tôi ngồi dưới gốc cây sao cổ thụ bên lề đường, ôm đứa em gái nhỏ nhất mới hơn một tuổi trong lòng nước mắt ràn rụa, trong khi mấy đứa em khác xúm xít chung quanh. Má không dám ngồi khóc trong nhà người ta dù là bà con đi nữa. Bọn chúng tôi chỉ biết đứng ngồi vòng quanh im lặng mà thôi.

Hôm qua mới vừa đến nhà bác Tám, má tôi ngồi trước hàng hiên, kéo mấy đứa em bắt ngồi cạnh bà, không cho chúng chạy long rong chung quanh trong tầm mắt. Má nói không cho mấy đứa em ở trong nhà nhiều sợ tụi nó động chạm vào đồ đạc nhà người. Chỉ đến giờ cơm do chị em tôi nấu má mới cho các em vào ngồi trên bộ ván gõ ăn cơm.
Hồi trưa chị Duyên nói mấy đứa nhỏ hàng xóm rủ nhau kéo đến trước nhà bác Tám xem mặt đứa em nhỏ nhất của tôi:

- Ra xem em bé đẹp nè, da mặt trắng như Bạch Tuyết, môi đỏ như son.

Chị còn nói với chúng tôi:

- Dân ngoại ô mà ăn đứt thành phố nha. Đoạt giải em bé đẹp trong lòng mấy đứa trẻ con hàng xóm nữa.

Mới có ba ngày mà mọi việc đổi thay nhanh quá! Chúng tôi không còn nơi chốn để về. Nương dâu hóa thành bãi bể bất ngờ thật tàn khốc! Cõi lòng tôi bắt đầu biết buồn từ những ngày tháng này.

Hung tin khiến má thu xếp dẫn gia đình hai chị em và bốn đứa nhỏ đi theo má về quê ngoại ở Phú Xuân ngày hôm sau. Ở đây là nhà người dì có thể trú ngụ tạm được vì một bên là gian nhà trống, nhưng má không chịu ở lâu dài vì cũng xa Sài Gòn, là nơi ba tôi đang dẫn hai đứa em trai theo ba vào trong sở làm. Má lo lắng thời gian sắp tới còn chuyện học hành của chị em tôi nữa. Tôi hiểu trong lòng ba má đang rối như canh hẹ. Lương công chức đông con chỉ đủ sống, ba má tôi dành dụm được bao nhiêu đều đổ vào căn nhà xây dựng làm tổ ấm dài lâu cho các con. Đi thuê nhà vào thời điểm gạo châu củi quế này rất tốn kém và khó khăn cho một gia đình đông đúc con cái.

Đang ở trong thế bế tắc lại gặp may mắn. Ba gặp một người bạn làm cùng sở trước kia và ngụ cùng cư xá, lúc đó bọn chúng tôi hay tụ tập trước nhà xem ông này đàn ca hát xướng với các ông bạn văn nghệ khác. Sau khi Sở chuyển về Tổng nha, ông được đổi vào Ban Tâm lý chiến ngành Cảnh sát và đang là Phó Trưởng trại tiếp nhận các gia đình chiến nạn của nhân viên cùng ngành. Ông ưu tiên cấp cho gia đình tôi phân nửa phòng học, nhờ vậy chúng tôi ổn định chỗ ở, dù chỉ mới mấy ngày tan đàn xẻ nghé. Ông bạn cũ còn nói với ba tôi: “Gia đình anh vào đây còn được cung cấp nhu cầu về thực phẩm ít nhất là sáu tháng”. Vậy là tạm yên tâm an cư.

oOo

Chưa hết năm Mậu Thân 68, chỉ mới có năm tháng má tôi đi sinh thêm nhỏ em nữa! Thảo nào hôm chạy loạn tôi thấy bà ôm túi gạo khó nhọc bước đi, khi ấy bà đã có thai em tôi bốn tháng. Chắc vì câu nói “Trời sinh voi sinh cỏ” nên hồi ấy gia đình nào ở miền Nam cũng đông đúc con cái. Con đông người ta cho rằng nhà có phúc đức, giàu con hơn giàu của. Cũng không lạ lùng khi sinh hoạt gia đình chỉ có người chồng đi làm, người vợ ở nhà chăm sóc nuôi dạy con cái vẫn đủ sống, có lẽ nhờ phụ cấp cho vợ, con của chính phủ.

Nhờ vào người quen nên khi má tôi sinh hai đứa em gái đều được đưa vào Phòng Kiểu mẫu của bệnh viện Từ Dũ.

Phòng này được nằm riêng một phòng một giường như các nhà bảo sanh tư nhân, nhưng khác ở chỗ không phải trả tiền. Và khác ở chỗ không phải ai vào nằm cũng được, chỉ có người làm trong bệnh viện mới cho sản phụ biết cách để xin vào nằm đúng nơi và đúng lúc.

Hai đứa em gái chỉ sinh cách nhau một năm dù rằng cùng cha cùng mẹ lại khác biệt rõ ràng. Đứa lớn trong khoảng thời gian chạy giặc được trẻ con trong phố gọi là “Em bé đẹp, da trắng, môi son”, tay chân dịu dàng yểu điệu. Đứa nhỏ lại không giống chị. Nước da ngăm ngăm, không đen lắm nhưng cũng không trắng trẻo như chị nó. Đôi mắt tròn xoe, mắt hai mí với hàng lông nheo rậm hơi cong. Trong khi người chị mang danh em bé đẹp lại có đôi mắt mí lót. Ở nhà gọi hai đứa là “Gái đen” và “Gái trắng”. Đứa em tay chân cứng cáp săn chắc, vung vẫy, miệng bậm trợn gào la. Má nghĩ rằng tại lúc mang thai bà uống thuốc Bắc dưỡng thai và uống cà phê đen nhiều nên sinh ra em đen như vậy.
Mới sinh khi được ẵm về nhà là em khóc suốt. Sáng trưa chiều tối khóc liên hồi, lúc nào cũng phải nằm trên ngực má mới bớt khóc. Má tôi mệt mỏi cựa mình là em lại cất tiếng khóc. Ba tôi phải đi mua một khung sắt treo cái võng cho má tôi nằm ôm em. Nghe người ta nói là em “khóc dạ đề”, khi trẻ con mới sinh bị một người đang mang tang chế ghé thăm hay nhìn vào em bé sẽ bị khóc trong ba tháng mười ngày. Mới có một tháng đã là kinh khủng rồi, má nói đã sinh nhiều con không có đứa nào khó khăn với bà như vậy, thôi thì đành ráng chịu hai tháng nữa. Chúng tôi lót mền trên võng cho em nằm co trên cái chăn bông êm, võng phải lúc lắc đưa nhẹ liên hồi hễ ngừng là em cất tiếng khóc ngay. Tuy còn nhỏ xíu mà em có giác quan cực kỳ nhanh nhạy, võng vừa mới ngưng tôi chưa kịp đưa tiếp là em ọ ọe cất tiếng khóc liền. Chị tôi phải phụ giúp nấu nướng cho gia đình còn tôi lúc nào cũng túc trực bên võng em. Bên cạnh chuyện thay tã và cho bú, bất kể khi nào bên võng cũng phải có người và tôi là người bên cạnh em nhiều nhất.

Hết năm Mậu Thân qua niên học mới 1969, thời gian qua các lớp trong trường đã cho dân vào tạm trú giờ phải trả lại cho học sinh nhập học. Tất cả các gia đình được chính phủ sắp xếp trong các gian nhà xây tạm trong các khu đất trống hoặc sân vận động, sống tạm chờ các chung cư hoàn thành cấp cho dân chiến nạn đã bị thiêu hủy nhà. Gia đình tôi phải sinh hoạt tiếp tục gần hai năm nữa mới được nhận nhà mới.

Thời gian vẫn lặng lẽ trôi, chị em tôi lớn lên đi học rồi đi làm và trải qua những thăng trầm chung của đất nước. Má tôi lại sinh thêm em gái Út vào đầu thập niên năm bảy mươi. Em gái giờ đã hơn năm mươi tuổi. Vào những năm đầu thế kỷ hai mươi mốt, những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật trong đời sống đã mang đi khắp thế giới những tin tức mà ngày xưa người ta chỉ đọc được trên những trang báo viết và in trên giấy ngắn ngủi. Cách xa về địa lý không còn là khó khăn tồn tại như ngày xưa, chị em dù sống bên kia nửa vòng trái đất vẫn gặp nhau “tám” chuyện như xưa. Hồi đó mỗi buổi chiều sau giờ làm việc là bầy con gái tụ tập đứng trên bậc thềm trước cửa nói cười kể chuyện vô tư. Bây giờ lịch sử lập lại, tuy không trùng múi giờ chị em vẫn trông thấy nhau qua màn hình trên phone tay.

Ba năm trước em gái đen giờ đã có chồng và hai con trai, em sắp cưới dâu. Tôi nài nỉ em bay sang nhà tôi nghỉ hè, tình cờ gặp người quen trước kia giờ đang ở cùng thành phố với tôi. Em quen họ khi em mới định cư. Hai vợ chồng phút đầu gặp gỡ, tôi được giới thiệu là chị của em, bỗng hai ông bà nhìn tôi và em rồi nói giống nhau. Lòng tôi bỗng dưng bỡ ngỡ, không hiểu vì sao hai vị này nhắc đến chuyện giống nhau dù em có nước da ngăm ngăm. Đôi mắt to tròn hai mí với hai hàng mi rậm, hơi cong. Tôi thấy hai chị em không giống nhau chút nào vì đôi mắt tôi khởi thủy từ khi sinh ra chỉ có một mí tuy không đến nỗi giống mắt hí và người ta nói đây là mắt mí lót thôi. Tương phản nhiều và rõ ràng là nhỏ em gái Út cũng chỉ là có mắt một mí giống tôi (nhỏ này phải đi giải phẫu cắt thành hai mí).

Bảy tám năm nay trên internet đưa nhiều tin những đứa trẻ sinh ra vô tình bị trao nhầm rất nhiều. Từ Bắc đến Nam mấy chục năm sau mới nhận biết và khám phá nhờ phương pháp xét nghiệm tân tiến về huyết thống chính xác. Tôi lại nhớ đến em, đã hơn năm mươi năm. Em sống chung với chúng tôi là con của ba má, có phần được cưng chiều hơn vì miệng rất lanh và tính tình liếng thoắng khôn khéo. Em được ba tôi gọi là Mười Lém. Tôi đọc nhiều câu chuyện không thấy có chuyện nào giống nhau. Người ta khám phá vì có thân nhân tình cờ đi vào địa phương ven rừng và bỗng thấy có một đứa bé gái trắng trẻo mặt mày lại giống đứa cháu nhỏ của họ ở nhà. Nhưng đặc biệt là đứa bé này lại có cha mẹ là người dân tộc ít người với nước da đen mà con bé lại là da trắng. Đổi lại đứa cháu ngoại đang sống cùng con gái ông tại nhà thì có nước da đen giống người dân tộc. Từ lúc ấy mới khám phá hai bà mẹ cùng sinh con ở một bệnh viện. Hai đứa bé chỉ mới năm sáu tuổi nên còn đầy đủ chứng cớ là nhầm lẫn.

oOo

Bây giờ tôi mới nghĩ đến chuyện của em, năm ấy má tôi sinh em vì nhà đã bị cháy, địa chỉ chuyển từ trại tạm trú này đến trại tạm cư khác, có ai đó muốn đi tìm cũng không biết nơi chính xác. Người ta có thể truy tìm gốc tích bằng cách thử tế bào chất. Nhưng để làm gì, hơn năm mươi năm? Nếu có sự nhầm lẫn thì đứa bé kia bây giờ đang là ai? Con trai hay con gái và ở đâu trên trái đất này? Tình trạng ra sao? Nghèo nàn hay giàu có?! Và có phải là tự nhiên nhầm lẫn hay đã có sự sắp đặt để tráo đổi đứa con mà người ta cần về giới tính? Tôi hay có nhiều tưởng tượng nhưng thật tình tôi không mong chuyện xảy ra. Chỉ nghĩ đến thôi là tôi đã thấy đau lòng! Có phải năm ấy từ trong tiềm thức của một đứa trẻ cho dù mới sơ sinh nhưng đã có linh cảm bị bỏ rơi nên lúc nào cũng phải cần nằm trong lòng mẹ, lúc nào cũng phải có hơi người bên cạnh!

Tôi không biết riêng em có nhận ra điều khác giữa chị em chúng tôi với nhau chăng? Cho dù có thấy khác tôi vẫn xem em là đứa em từ xưa đến nay không có gì thay đổi. Tôi chưa bao giờ và cũng không hề thổ lộ với bất cứ anh chị em nào trong gia đình. Lòng tôi chỉ chứa đựng nỗi niềm riêng giống như nữ nhạc sĩ Lê Tín Hương đã viết: “Có những niềm riêng một đời giấu kín. Có những niềm riêng một đời câm nín... Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi!!”

Cỏ Biển
Mùa thu tháng mười 2026.

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026