TÌNH CẢNH NGƯỜI TRÍ THỨC TRONG THỜI ĐẠI STALIN
Đào Ngọc Phong
Trong những đế quốc tư bản, những biến cố xẩy ra nơi mẫu quốc đều ảnh hưởng tới thuộc địa. Trong đế quốc cộng sản cũng vậy, những biến cố xẩy ra trong Liên Bang Xô Viết đều gây nên những biến động to lớn về mọi mặt trong những nước cộng sản vệ tinh.
Dùng từ ngữ “đế quốc cộng sản” có lẽ là một cách nói mâu thuẫn, vì chủ nghĩa cộng sản vốn chủ trương “bài phong phản đế”. Nhưng trên thực tế, chính lãnh tụ Lenin (1870-1924) vào tháng Ba năm 1919 đã lập ra Đệ Tam Quốc Tế với ý đồ làm bá chủ (ĐCSVN—Trang 43: Đoạn C: Dựng Lên Một ĐCS Thế Giới Do ĐCS Nga Điều Khiển).
Stalin (1878- 1953) vừa phản bội Lenin vừa tiếp nối di sản của ông. Vì vậy trước khi bàn tới thời kỳ băng giá Stalin, chúng tôi xin lược qua di sản Lenin.
1/ Lực lượng cách mạng chính yếu là muzik, nông dân Nga. Công nhân và binh lính là phụ. Quan điểm này trái hẳn với Marx và Engels vốn chỉ coi giai cấp vô sản là tấng lớp công nhân có trình độ kỹ thuật nào đó.
2/ Đảng cách mạng kiểu mới phải gồm toàn những người cách mạng chuyên nghiệp giữ vai trò lãnh đạo giai cấp vô sản.
Nhưng “những người cách mạng chuyên nghiệp” này là ai? Tất nhiên họ chỉ nhân danh giai cấp vô sản để nắm quyền lãnh đạo. “remplacer le proletariat par le revolutionnaire professionnel” (Les Aventures---Chapitre III: Pravda ---trang 95----Replacing the proletariat by the professional revolutionary---Chapter III: Pravda---trang 65---Thay thế người vô sản bằng người cách mạng chuyên nghiệp).
Tác giả Nguyễn Minh Cần viết: “Sự thật chứng tỏ “những người cách mạng chuyên nghiệp” trước tháng 10- 1917 phần lớn là những kẻ vô nghề nghiệp không lao động, hoặc có nghề nghiệp mà không làm việc gì ngoài việc làm cách mạng; cũng có một số đã có quá khứ tội phạm” (ĐCSVN—trang 33-34).
3/ Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ: “Chính nguyên tắc này bảo đảm sự phục tùng tuyệt đối của đại đa số đảng viên đối với một nhóm nhỏ những người lãnh đạo, hay nói theo cách của Lenin “ một ủy ban gồm những người cách mạng chuyên nghiệp, và ủy ban này –đến lượt nó phải phục tùng tuyệt đối một hay vài lãnh tụ.” (ĐCSVN –trang 35)
4/ Bạo lực và Khủng bố Đỏ Và Trại Cưỡng Bách Lao Động GULAG:
Tháng 12 năm 1917 Lenin thành lập cơ quan mật vụ Vecheka đứng đầu bởi nhân vật Feliks Dzerzhinsky (1877-1926) có “biệt danh là Feliks Sắt, một người rất sắt đá, vô cảm, tàn nhẫn”.(ĐCSVN—trang 39) điều khiển mọi cuộc khủng bố .
Tháng 9 năm 1918 bắt đầu cuộc Khủng Bố Đỏ, một hệ thống do Cheka trách nhiệm, đàn áp một cách sắt máu mọi thành phần chống đối chính quyền mới.
Tháng 4 năm 1919 thành lập cơ quan quản lý các trại tập trung cưỡng bách lao động gọi là Gulag. Cho tới tháng 10 năm 1923 toàn quốc đã có 315 trại với 70,000 tù nhân (Nguồn: Wikipedia: Lenin).
5/ Về Mặt Triết Học:
Chế độ Nga Hoàng Romanov bị lật đổ vào tháng 2 -1917 trong cuộc cách mạng tư sản. Vào tháng 10-1917, đảng cộng sàn bôn- sê-vích của Lenin làm cuộc đảo chánh cướp chính quyền. Mặc dù không phải giai cấp vô sản Nga lật đổ chế độ phong kiến, nhưng Lenin vẫn gọi cuộc đảo chánh tháng 10-1917 là cách mạng vô sản.
“In late 1917, Lenin led what was soon to be known as October Revolution, but was essentially a coup d’etat’ (Internet:History.com)—“Ngày nay giới sử học Nga đã khẳng định sự biến tháng 10-1917 là một cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền dân chủ, chứ không phải là cuộc cách mạng như những người bôn-sê-vích thường nói” (ĐCSVN—Sđd—trang 32).
Với quần chúng vô sản nông dân có trình độ văn hóa thấp, Lenin phải hạ thấp tư tưởng triết học Mác-xít xuống thành một hệ tư tưởng duy vật tầm thường.
“Il (Lenin) aurait donc voulu, dans ce travail (Materialisme et Empiriocriticisme), fournir une ideologie simple et efficace à un pays qui n’avait pas passe’ par toutes les phases historiques du capitalisme à l occidentale: la dialectique, l’autocritique du materialism, c’était
pour plus tard “(Les Aventures….Chapitre III: Pravda--sđd trang 89)
“What he (Lenin) wanted to do in this earlier work was, therefore, to furnish a simple and efficacious ideology to a country which had not gone through all the historical phases of Western capitalism. The dialectic, the self-criticism of materialism, was for later on “ (Adventures of the Dialectic---sđd—trang 61).
Chúng tôi xin tạm dịch: “Trong tác phẩm “Thuyết Duy Vật và Thuyết Kinh Nghiệm Phê Bình) Lenin đã muốn cung ứng một ý hệ đơn giản và hữu hiệu cho một xứ sở chưa từng trải qua những giai đoạn lịch sử của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây: Phép biện chứng, tinh thần tự phê bình của thuyết duy vật, để sau này sẽ bàn tới”.
Khi nói về phép biện chứng, ta phải chấp nhận hai tiền đề:
a/ Loài người nói chung khác với loài vật ở chỗ có ý thức về mình (conscience de soi---self-consciousness), có năng lực tinh thần nội tại sáng tạo tự do luôn đối thoại với đối tượng của nó để càng lúc càng tự nâng cao đến chỗ hòa hợp chủ thể và đối tượng.
b/ Mỗi cá nhân nói riêng có chủ- thể- tính độc đáo, không thể bị giản lược thành một thành phần máy móc của một đoàn nhóm xã hội (không phải là một cái đinh ốc trong một cỗ máy).
Lenin đề cao thuyết duy hiện thực ngây thơ cho rằng ý thức con người chỉ là cái phản chiếu thụ động của thế giới tự nhiên qua não bộ, do đó phủ nhận chủ thể tính năng động. Nhưng ông lại chấp nhận phép biện chứng chỉ có trong thế giới tự nhiên và trong lịch sử con người hiểu như một “thiên nhiên thứ hai” (the second nature) (xem Adventures of the Dialectic—Chapter III: Pravda). Vì thế triết gia Merleau Ponty cho rằng trong tư tưởng của Lenin có một sự mâu thuẫn nột tại không vượt qua được:
“Le conflit de la dialectique et du realism n’est donc pas surmonte’., et d’autant moins que, nous l’avons dit, le communisme peut bien professer la dialectique du bout des levres, il n’accepte pas d’y renoncer” (Les Aventures….Chapitre III—trang 103)
“The conflict between dialectic and realism is therefore not overcome, for, as we have said, if communism gives lip service to the dialectic, it can not bring itself to renounce it”(Adventures of the Dialectic—Chapter III---trang 72)
Chúng tôi xin tạm dịch: “Sự xung khắc giữa phép biện chứng và thuyết duy hiện thực do đó không thể giải quyết được, bởi vì như chúng tôi đã nói, chủ nghĩa cộng sản không chấp nhận là đã chối bỏ phép biện chứng, ít nhất là vì nó còn cứ rao giảng phép biện chứng trên đầu môi chót lưỡi”.
“Tel est finalement son profil intellectuel: un system de double jeu philosophique, qui desarme la dialectique en refusant au sujet le jugement de l’histoire, l’appreciation intrinseque de la litterature comme de la politique, mais qui donne à croire qu’elle continue à fonctionner là-bas, dans les infrastructures et dans le mysterieux avenir qu’elles preparent, qui honore la dialectique de loin, sans la pratiquer, sans la desavouer, l’annule comme instrument critique, ne la conserve que comme point d’honneur, justification, ideology” (sđd—trang 104)
“In the end, communism’s intellectual profile is a fast and loose philosophical system which disarms the dialectic by denying to the subject the judgment of history and the intrinsic appreciation of literature and politics, but it is a system which leads one to believe that the dialectic continues to function in the infrastructures and in the mysterious future which the infrastructures are preparing, and it is a system which honors the dialectic from afar and, without practicing or disavowing it, annuls it as a critical instrument, keeping it only as point of honor, justification, and ideology” (sđd---trang 72).
Chúng tôi xin tạm dịch: “Rốt cuộc đây là diện mạo trí thức của chủ nghĩa cộng sản: Đó là một hệ thống triết học hai mặt, nó vừa tước vũ khí của phép biện chứng bằng cách từ chối ban cho chủ thể cái quyền phê phán về lịch sử, sự xét giá trị nội tại của văn học và chính trị, lại vừa khiến cho người ta tin rằng phép biện chứng vẫn tiếp tục vận hành ở dưới kia, nghĩa là nơi hạ tầng kiến trúc và trong tương lai huyền bí do hạ tầng kiến trúc đang chuẩn bị tạo nên; và đó cũng là một hệ thống vinh danh phép biện chứng từ xa, và nó tiêu trừ phép biện chứng như một khí cụ phê bình trong khi chẳng thực hành mà cũng chẳng vứt bỏ; nó chỉ giữ phép biện chứng như một thứ để giữ thể diện,như một cái gì để biện minh,như một ý hệ mà thôi”.
6/ Di Chúc của Lenin:
Theo tài liệu trong bài “Lenin---History.com” (Nguồn Internet), vào tháng 5 năm 1922, Lenin bị đột quỵ lần thứ nhất; tháng 12 -1922 đột quỵ lần thứ nhì. Đầu năm 1923 Lenin viết Di Chúc trong đó Lenin bày tỏ lòng hối hận về những sai lầm của ông trong sự thiết lập chế độ độc tài. Đặc biệt, Lenin tỏ ra không hài lòng với Stalin.
Tác giả Nguyễn Minh Cần viết:”Dù đang bị ốm nặng, hồi tháng 12 -1922 Lenin đã đọc cho thư ký viết một bức thư gởi đại hội đảng thứ 13 và yêu cầu chỉ được bóc ra sau khi ông chết, vì thế sau này người ta gọi là “Di Chúc Chính Trị của Lenin”. Trong thư có đoạn viết “Stalin là người thô lỗ quá đáng, và nhược điểm này—hoàn toàn có thể chịu đựng được giữa chúng ta với nhau và trong quan hệ giữa những người cộng sản---nhưng không thể chấp nhận được trong cương vị Tổng Bí Thư đảng.Vì thế, tôi đề nghị các đồng chí hãy suy nghĩ để chuyển Stalin ra khỏi trọng trách ấy. Hãy cử vào vị trí của Stalin một đồng chí khác có tính nết tốt hơn Stalin, kiên nhẫn hơn, trung thực hơn, lịch sự hơn, chu đáo hơn đối với các đồng chí, tính khí ít thất thường hơn…..(xem Lenin V.1. Toàn tập trang 45---tiếng Nga trang 346).(ĐCSVN—sđd—trang73-74).
Chính con người Stalin như thế đã tạo ra bóng tối và băng giá suốt 30 năm trong đế quốc cộng sản.
a/ Thủ đoạn loại bỏ địch thủ:
Vào năm 1917, bộ chính trị của đảng bôn-sê-vich gồm có 7 nhân vật đầu não đều là những người có học vấn. Đứng đầu là Lenin, thứ hai là Trotsky (1879-1940), Kamenev (1883-1936), Zinoviev (1883-1936), Stalin (1878-1953), Sokolnikov (1888-1939), Bubnov (1883-1938). Sau khi Lenin chết (21 tháng Giêng 1924), Stalin giết hết 5 người đổng chí từ 1936 đến 1940 trong cuộc Đại Thanh Trừng (The Great Purge 1937-1938).
Tại sao Lenin biết rõ con người Stalin như thế mà không phòng ngừa được? Là vì thủ đoạn của Stalin xảo quyệt quá.
Nhìn lại những triều vua thời phong kiến, quân chủ chuyên chế, không thiếu gì những âm mưu cung đình giả di chiếu của vua để lập vua khác. Điển hình là thái giám Triệu Cao thời Tần Thủy Hoàng. Thủy Hoảng là một lãnh tụ kiệt xuất ----như Lenin---nhưng việc xa việc rộng thì sáng mà việc gần thì tối. Thủy Hoàng không biết âm mưu của Triệu Cao từ lâu vốn ghét thái tử Phù Tô và muốn trừ khử. Khi Thủy Hoàng chết,Triệu Cao giả di chiếu bắt thái tử uống thuốc độc chết, lập công tử Hồ Hợi bất tài làm vua để dễ sai khiến.
Stalin cũng thế. Vào năm 1922 khi Lenin nhuốm bệnh, thì Stalin làm tổng bí thư. (xem ĐCSVN –sđd—trang 73). Tuy hồi đó chức này chỉ có tính cách hành chánh lo văn thư nhưng Stalin đã âm thầm sắp đặt tay chân bộ hạ khắp nơi. Khi thấy bệnh tình Lenin càng ngày càng nặng vào cuối năm 1922, Stalin gài người của mình làm thư ký riêng theo sát giường bệnh. Khi Lenin bí mật thảo di chúc thì người biết trước hết là Stalin. Đối thủ chính của Stalin là Trotsky vì ông này hồi đó là nhân vật số 2 sau Lenin, vừa là ủy viên bộ chính trị vừa là chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng. Nếu đọc di chúc Lenin trước đại hội thì chắc chắn Trotsky sẽ được bầu làm tổng bí thư, và số phận của Stalin sẽ thê thảm.
Sau khi Lenin qua đời ngày 21 tháng giêng năm 1924, Trotsky còn đang công tác xa, Stalin lập kế báo sai ngày cử hành tang lễ để khi Trotsky về thì mọi việc đã xong. Stalin giành lấy việc chủ trì tang lễ coi như mình là người đương nhiên kế vị. Đại hội đảng thứ 13 diễn ra ngày 22-5-1924 dưới sự chủ tọa của Stalin đã không đọc di chúc Lenin, và ông vẫn giữ chức tổng bi thư, nhưng bây giờ với quyền hạn càng ngày càng lớn (ĐCSVN—sđd—trang 74).
b/ Loại Trừ đồng chí cũ
-Trotsky: Bị khai trừ khỏi đảng năm 1926, bị trục xuất ra khỏi Liên xô năm 1928, bị giết bời mật vụ của Stalin năm 1940 tại Mexico.
-Zinoviev: Mất chức Chủ tịch Đệ Tam Quốc Tế năm 1926, bị hành quyết năm 1936.
-Kamenev: Mất chức chủ tịch đảng bộ Moscow 1925, lập phe chống Stalin 1925-1926, bị hành quyết năm 1936
-Bukharin (1888-1938) Mất chức chủ tịch QTCS năm 1929, bị hành quyết năm 1938.
Từ 1924 cho đến 1936, Stalin loại trừ dần dần mọi thành phần ưu tú cách mạng từ thời 1917 gọi là những Old Bolchevicks (những lão tướng bôn sê vich), thay thế bằng lớp đảng viên cuồng tín hay cơ hội lưu manh chỉ biết tuyệt đối vâng lời.
c/ Cuộc Đại Thanh Trừng 1937-1938
Vì đại hội thứ 17 của đảng cộng sản Liên xô ngày 1 tháng 2 năm 1934 muốn truất phế Stalin nên Stalin ra tay quét sạch những người chống đối.
“Hàng triệu cán bộ, đảng viên,những nhà trí thức, nhiều sĩ quan, quân nhân, dân bình thường đã bị bắt bớ, bắn giết, hoặc quăng vào các trại tập trung giăng khắp Liên Bang Xô Viết gọi là Gulag”
“Cuộc điều tra (sau này) cho thấy 98 người trong số 139 ủy viên trung ương chính thức và dự khuyết do đại hội 17 bầu ra, tức là 70% đã bị bắt và bị xử bắn (phần lớn vào những năm 1937-1938)
“Không những các ủy viên TU mà đa số đại biểu dự đại hội 17 của đảng cũng chịu chung số phận. Trong số 1961 đại biểu chính thức và dự bị thì 1108 người bị bắt và ghép tội phản cách mạng (tức là 56-5%) (ĐCSVN—sđd---trang 82).
Sau cuộc đại thanh trừng này, Stalin coi như trở thành một thứ Sa Hoàng Đỏ. “Trên thực tế, Stalin đã tiêu diệt đảng cộng sản của Lenin và lập ra đảng cộng sản riêng của mình” (trang 82).
Stalin vừa phản bội Lenin khi giết hết những đồng chí cũ của Lenin, lại vừa tiếp nối di sản bạo lực khủng bố độc tài toàn trị của ông ở mức độ khủng khiếp hơn.
Phê phán cuộc đại thanh trừng này, triết gia Merleau Ponty viết: “Nous avons essaye’ de montrer ailleurs que les proces de 1937 avaient leur principe dans l’idee’ revolutionnaire de la responsabilite’ historique, mais que, bizarrement, ils ne voulaient pas l’avouer, se donnaient comme proces de droit commun, et les opposants comme des espions.
“Les proces de Moscou, c’etait la revolution qui ne veut plus être revolution, ou inversement----nous laissions la question ouverte---un regime etabli qui mime la revolution.”
(Les Aventures….sđd---trang 104)
“We have attempted to show elsewhere that the 1937 trials had their principle in the revolutionary idea of historical responsibility but that,strangely, this was not admitted; rather, they were presented as criminal-law trials, and the defendants were presented as spies.
The Moscow trials were the revolution which no longer wanted to be revolution, or inversely, (we left the question open) an established regime which mimics the revolution”(Adventures of…..sđd trang 72).
Chúng tôi xin tạm dịch: “Ở nơi khác, chúng tôi đã thử minh chứng rằng những vụ án năm 1937 có nguyên tắc của chúng nằm trong ý tưởng cách mạng về trách nhiệm lịch sử, thế nhưng thật là kỳ lạ, chúng lại không muốn thú nhận điều đó. Chúng diễn ra y như những vụ án hình sự thông thường và các bị cáo bị xem như là những gián điệp”.
“Những vụ án ở Moscow, chính là cuộc cách mạng không còn muốn là cách mạng nữa. Hay nói ngược lại---(chúng tôi để ngỏ vấn đề này)—một chế độ đã định hình rồi chỉ bắt chước cách mạng mà thôi.”
Tính cách hai mặt trong tư tưởng cộng sản đã dẫn đến bi kịch trí thức nơi những triết gia, những văn nghệ sĩ. Một đằng nó tiêu trừ vế chủ thề tính của phép tư tưởng biện chứng để chỉ giữ lại vế khách thể tính, một đằng nó lại “rao giảng phép biện chứng trên đầu môi chót
lưỡi” để chứng tỏ thuyết duy vật biện chứng tiến bộ hơn thuyết duy vật cổ điển.
Mâu thuẫn nội tại này không thể vượt qua được, khiến cho những trí thức gọi là mác-xít như triết gia Georg Lukacs (1885-1971), thi sĩ Mayakovsky (1893-1930), văn sĩ Arthur Koestler (1905-1983) lâm vào cảnh ngộ lưỡng nan.
Đảng cộng sản Nga tự cho là tiếp nối chính thống của triết học Mác, phê phán trường phái mác-xít “phương tây” của Lukacs trong tác phẩm “Lịch Sử và Ý thức Giai Cấp” (Nguyên tác tiếng Đức: Geschichte und Klassenbewusstsein---xem Les Aventures---chapitre II: Le marxisme “occidental”—trang 46----Adventures of…….chapter II: “Occidental” Marxism—trang 30) vì ông bảo vệ phép tư tưởng biện chứng đúng nghĩa.
Bi kịch trí thức của Lukacs: muốn vẫn là đảng viên cộng sản thì phải chối bỏ lập trường triết học “phương tây” của mình. Bi kịch đời sống: J. Revai, (1895-1959), học trò triết học năm xưa của Lukacs, đã phản bội ông khi lên làm bộ trưởng văn hóa Hungary năm 1949, đứng trên lập trường của đảng để phê phán Lukacs trong tác phẩm “La litterature et la Democratie populaire à propos de G. Lukacs” (Edition de la Novelle Critique 1950)—(Triết gia Merleau Ponty tự hỏi: phải chăng có hai J. Revai ? ---sđd trang 101). Có lẽ J. Revai chỉ đeo mặt nạ để tiến thân, vẫn che giấu con người thực sẽ lộ ra nếu bị thất sủng.
Tình trạng lưỡng nan trí thức của Lukacs nằm ở chỗ: về triết học, ông phải chối bỏ phép biện chứng để chấp nhận quan điểm duy hiện thực chính thống của đảng cộng sản; trái lại về lý thuyết văn học, ông lại hoàn toàn quay trở về với phép biện chứng đúng nghĩa.
“À considerer les polemiques recentes autour de Lukacs, il est clair que sa theorie de la litterature ramene la dialectique tout entiere et le met en conflit avec l’orthodoxie, pendant que ses concessions au realism philosophique l’entrainent à capituler tout à fait” (sđd—trang 98)
“From the recent polemics surrounding Lukacs, it is clear that his theory of literature brings back the dialectic in its entirety and puts him in conflict with the orthodoxy at the same time as his concessions to philosophical realism lead him to a complete capitulation”(sđd—trang 67-68).
Chúng tôi xin tạm dịch “Qua những cuộc bút chiến gần đây chung quanh Lukacs, chúng ta thấy rõ lý thuyết văn học của ông đã hoàn toàn đem phép biện chứng trở lại và đặt ông ở vị thế đối kháng với hệ tư tưởng chính thống, đồng thời những nhượng bộ của ông đối với triết học duy hiện thực lại đưa ông đến sự đầu hàng hoàn toàn”.
Lưỡng nan trong tư tưởng đưa đến lưỡng nan trong hành động: Trong thời gian ở Moscow từ 1930 đến 1950 dưới chế độ Stalin, ông phải công khai rút lại những luận đề chính
trong tác phẩm “Lịch sử và Ý thức Giai Cấp” xuất bảnnăm 1923: tương tác, tương hệ giữa chủ thể và khách thể, xã hội như một toàn thể vận động trong giòng lịch sử đến khi tự ý thức, chân lý chỉ có thể đạt được qua tiến trình phê bình thường xuyên, tức là chống giáo điều….
Về tương quan giữa đảng cộng sản và giai cấp vô sản, lập trường của Lukacs đối nghịch với lập trường của Lenin và sau này của Jean Paul Sartre (1905-1980). Theo Lenin, giai cấp vô sản không thể tự mình làm cách mạng được, mà phải được lãnh đạo triệt để bởi đảng cộng sản. Đảng CS hiểu như một chủ thể có quyền năng làm cho giai cấp vô sản, hiểu như một khách thể, được hiện hữu. Trái lại, Lukacs chủ trương rằng có lúc đảng cộng sản đứng làm trung gian giữa lịch sử và giai cấp vô sản,; lúc khác giai cấp vô sản sẽ đảm nhiệm vai trò trung gian giữa lịch sử và đảng cộng sản. Như vậy Lukacs phủ nhận vai trò chủ thể tuyệt đối của đảng cộng sản.
Sau khi Stalin chết, ông trở về Budapest và năm 1956 trong cuộc cách mạng chống cách mạng, đã tham gia chính phủ Imre Nagy (1896-1958) làm bộ trưởng giáo dục. Sau khi Khrushchev dẹp tan cuộc nổi loạn này, ông bị đi tù tại Romania. Một nghi vấn lịch sử: nhiều người tham gia cuộc nổi loạn bị hành quyết trừ Lukacs chỉ bị trục xuất khỏi đảng. (xem: Stanford Encyclopedia Of The Philosophy; Georg Lukacs---Nguồn Internet).
Nghi vấn này có thể được trả lời như sau: Lukacs vẫn công nhận vai trò tương đối của đảng cộng sản nên không bị giết. Còn Trotsky bị giết vì từ nền tảng lý thuyết ông coi đảng cộng sản chỉ có vai trò ngẫu nhiên và coi giai cấp vô sản là lực lượng cách mạng thường trực sẽ tự thực hiện cách mạng vô sản. Tuy nhiên cả ba lập trường (của Lenin, Lukacs và Trotsky) đều sai lầm vì tự mâu thuẫn khi chỉ coi giai cấp vô sản là thành phần duy nhất tinh túy của loài người, loại bỏ mọi thành phần ưu tú khác. Chỉ xét riêng về quan niệm biện chứng pháp thôi, giữa chính đề và phản đề không có yếu tố nào là duy nhất quyết định sự vận động của lịch sử . Còn xét rộng về toàn thể sinh hoạt con người, thì tương quan biện chứng giữa chính đề và phản đề cũng chỉ là một trong rất nhiều loại tương quan. (Les Aventures…Sđd---Chương I viết về Triết gia Max Weber(1864-1920)—trang 18-45).
“L’histoire de Lukacs est celle d’un philosophe qui a cru pouvoir envelopper le realism dans la dialectique, la chose même dans la pensee’ de la chose. La lame use le fourreau, et personne finalement n’est satisfait, ni le philosophe, ni le pouvoir.” (sđd—trang 103)
“Lukacs’history is that of a philosopher who believed it possible to wrap the realism in the dialectic, the thing itself in the thought of the thing. The blade wears out the sheath, and in the end no one is satisfied, neither the philosopher nor the powers that be”(sđd—trang74)
Chúng tôi xin tạm dịch: “Câu chuyện về Lukacs là câu chuyện của một triết gia vốn tin tưởng rằng người ta có thể lấy phép biện chứng để bao bọc thuyết duy hiện thực, gói sự vật trong tư tưởng vể sự vật. Lâu dần lưỡi dao sẽ cứa rách vỏ bọc, và rốt cuộc không ai thỏa mãn, cả triết gia lẫn quyền lực chính trị”
Mayakovsky là một thi sĩ cộng sản thuần thành suốt đời cho đến khi tự tử ở tuối 36 vì bị thất sủng khi cuối đời ngộ ra chân lý (xem Wikipedia: Mayakovsky---nguồn Internet).
Koestler vào đảng cộng sản Đức năm 1931 cũng ngộ ra chân lý sau cuộc thanh trừng đẫm máu của Stalin diễn ra suốt từ 1924 đến 1938.
Năm 1938 ông ra khỏi đảng. Năm 1940 ông xuất bản tác phẩm lừng danh “Darkness at Noon” (Bóng Tối Giữa Ban Trưa—Tác giả Vũ Thư Hiên dịch là: Đêm giữa Ban Ngày) mà nhân vật chính là Nicholas Rubashov điển hình cho những Old Bolchevicks trước kia đầy quyền lực như Trotsky, Zinoviev, Kamenev,Bukharin…bị Stalin giết. (Wikipedia: Darkness At Noon)
Chủ đề của tác phẩm là chống chế độ độc tài toàn trị, nói lên sự tỉnh mộng của một thanh niên đầy nhiệt huyết cách mạng trước những thực tế phũ phàng. Như câu chuyện một chàng trai mê một tiểu thư khuê các, trồng cây si bao năm trước lâu đài nhà ông trưởng giả, cuối cùng được ông trưởng giả cho phép cưới, nhưng cô dâu phải choàng khăn hồng lên mặt khi làm lễ rước dâu.
Đến khi động phòng mới thấy cô dâu méo miệng, chột mắt.
Stalin chết ngày 5 tháng 3 năm 1953 chấm dứt một giai đoạn đầy bóng tối ở nước Nga và mở ra cho dân Nga được hưởng 10 năm từ 1954 đến 1964 tương đối tự do trong một thời kỳ gọi là thời “Băng rã Khrushchev” (Khrushchev Thaw).
Bóng tối và băng giá của chế độ Stalin không chỉ bao phủ toàn Liên Xô và những nước cộng sản vệ tinh Đông Âu, mà trùm lên cả Trung Hoa Cộng Sản và Việt Nam Cộng Sản mà một chút “Băng rã Khrushchev” không thể cứu vãn được những bi thảm kịch của giới trí thức trong các phong trào Trăm Hoa Đua Nở trong thập niên 1950 và Cách Mạng Văn Hóa thập niên 1960.
Đào Ngọc Phong
09/11/2017
Sách tham khảo
-Les Aventures De La Dialectique—Maurice Merleau Ponty—Editions Gallimard—1955:
(Bản dịch Anh ngữ: Adventures of The Dialectic—Dịch giả: Joseph Bien---Northwestern University Press Evanston—1973)
-Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua những Biến Động Trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế--Nguyễn Minh Cần—Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ --2016 (Viết tắt: ĐCSVN)
-Nguồn Internet: Wikipedia—History.com---Britanica.com-
-Sử Trung Quốc—Nguyễn Hiến Lê—xb tại Saigon năm 1983—In lại năm 1996)
--Jacques Gernet—Le Monde Chinois—NXB Armand Colin-Paris 1972—A History of Chinese Civilization—translated by J.R Foster and Charles Hartman -- Cambridge University Press- 1972 –Reprinted in the USA—1999)
|